Giải nhất cuộc thi phát minh năm nay của tạp chí Khoa học phổ thông (Mỹ) được trao cho xe tăng tự hành không người lái với tốc độ tối đa lên tới 90km/h. Đây là thành quả chín năm ròng miệt mài nghiên cứu, chế tạo của hai anh em nhà Howe là Geoff và Mike.
Trong khi Mike là nhà tư vấn tài chính, Geoff làm đốc công cho một nhà máy phân bón. Kiến thức cơ khí, động lực do họ tự học. Trình diễn mô hình tại hội chợ xe hơi washington năm 2005, họ đã được bộ Quốc phòng Mỹ đầu tư 1,25 triệu USD để phát triển sản phẩm tự chế này. Cũng từ đó, công ty công nghệ Howe và Howe ra đời. Năm 2005, ông nông dân tỉnh Tây Ninh là Trần Quốc Hải cũng có bước khởi đầu như anh em nhà Howe, khi họ thử nghiệm chế tạo máy bay trực thăng. Sau đó, năm 2007, bộ Quốc phòng và bộ Khoa học công nghệ cùng chuyên gia hàng không, thiết bị chuyên ngành đánh giá, máy bay được chế tạo không đủ điều kiện kỹ thuật, không bảo đảm an toàn. Theo VNN, máy bay của các nhà sáng chế nông dân “không có bản vẽ thiết kế, không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật làm cơ sở đánh giá tính chất khí động học, độ bền kết cấu...”.
Trao đổi với ông Trần Quốc Hải, mất sáu năm mới hoàn thành được chiếc máy bay đầu tiên. “Chiếc thứ hai chỉ mất sáu tháng” – ông Hải nói. Tuy không được phép bay, nhưng chiếc máy bay trực thăng do ông Hải tự chế đã được đưa đi triển lãm ở nước ngoài trước khi được một viện bảo tàng ở New York mua lại để trưng bày. Chiếc thứ hai đã được trưng bày ở Áo, Singapore và tháng 8 năm nay sẽ sang Nhật. Ông Hải cho biết, tiền bán chiếc máy bay đầu cũng đủ trang trải kinh phí mua sắm động cơ, chế tạo thiết bị.
Chiếc máy bay đầu tiên không thể trưng bày ở New York, theo ông Hải, nếu không có sự giúp đỡ tài chính của ông Lê Văn Danh. Ông Hải cũng không có nhiều điều kiện tiếp cận kiến thức khoa học công nghệ như anh em nhà Howe. Môi trường nghiên cứu và kinh doanh mà ông Hải đang sống cũng thiếu các doanh nghiệp chấp nhận đầu tư mạo hiểm từ các ý tưởng phát minh, sáng chế tưởng chừng như không thể có như cách một nông dân như ông Hải nghiên cứu và thiết kế máy bay.
Ông Hải giờ đã hiểu rõ quy trình và thủ tục khi chế tạo các vật thể bay, nên quay sang thiết kế máy công cụ. “Nói chung cũng lấy nó nuôi nó được” – ông Hải nói về máy tuốt lá đang bán cho nông dân trong vùng. “Tôi chế tạo những gì tôi nghiên cứu” – ông Hải nói về các sản phẩm đang nghiên cứu như máy tuốt lá hay robot tự hành. Nhưng không quen và không có kiên thức về cách thức tổ chức nghiên cứu và sản xuất, ông không quen và chẳng nghĩ đến việc lập ra công ty công nghệ mang tên ông. “Tôi vẫn chờ đến khi có điều kiện để xây dựng xưởng sản xuất bài bản, tiêu chuẩn hóa. Thị trường máy nông nghiệp vẫn còn nhiều đất để phát triển” – ông Hải nói.
Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009
Cuộc đua đường dài
Một doanh nhân có tiếng ở đất Bắc từ thập niên 1980 đưa ra triết lý đèn vàng. Nghĩa là phải chớp thời cơ để đi trước, bởi đợi đèn xanh thì xuất phát ngang nhau. Không may, ông phải hai lần vào tù vì cách đi lúc đèn mới vàng như vậy.
Dĩ nhiên, cơ hội trong kinh doanh là điều rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là cách nắm lấy cơ hội như thế nào. Trong suy nghĩ đi theo đèn vàng của người kinh doanh, việc nắm lấy cơ hội theo cách đó có vẻ như phù hợp với cuộc đua cự ly ngắn. Với các cuộc đua đường trường, xuất phát nhanh hay chậm tùy thuộc vào cách phân phối sức và thể trạng của người chạy.
Ở giấc mơ công nghiệp điện tử Việt Nam không thành, ngoài nguyên do sai lầm về chiến lược, không chỉ có doanh nghiệp nước ngoài tận dụng hàng rào bảo hộ thuế để làm giàu hợp pháp, mà doanh nghiệp trong nước cũng là vận động viên chạy đường ngắn. Không lấy làm lạ khi hầu hết doanh nghiệp sản xuất xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên bài toán thương mại. Kết quả là hàng trong nước có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Đã vậy, các toan tính kinh doanh đều là ngắn hạn, mang tính thời vụ. VTB làm hàng điện tử, nhảy sang lắp ráp máy tính.
Thế nên, sự thắng thế của hàng điện tử Việt Nam chỉ mang tính giai đoạn. Khi hàng rào quan thuế bị dỡ bỏ theo các cam kết hội nhập khu vực và quốc tế, hàng điện tử trong nước lâm cảnh chợ chiều. Khi mảng máy tính hết ăn bởi các doanh nghiệp máy tính mạnh của nước ngoài như HP, Dell đưa máy bộ giá rẻ vào Việt Nam, thì VTB chuyển sang điện gia dụng. Với cách xoay trở nay lắp ráp cái này, kia lắp cái khác như vậy, năng lực cốt lõi của một đơn vị sản xuất điện tử khó lòng được nâng cao, cũng như khó lấn sang các công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị.
Câu chuyện của VTB không phải là cá biệt. Có thể thấy doanh nghiệp làm bánh đi làm địa ốc. Doanh nghiệp máy tính đi làm ngân hàng. Dẫu chiến lược nhắm tới người dùng điện tử của một doanh nghiệp kinh doanh máy tính và phần mềm có sức thuyết phục, giới phân tích vẫn phải nghi ngờ về khả năng thực hiện khi họ “ôm đồm” từ chứng khoán, ngân hàng, tới sản xuất máy tính hay mới đây là sản xuất điện thoại. Làng công nghệ thông tin thế giới không thiếu các anh tài như Microsoft, IBM, Google. Các “đại gia” công nghệ này dù hoạt động ở các nước phát triển vẫn chăm chút cho mảng miếng kinh doanh dựa trên nền năng lực lõi đã được hoạch định sẵn.
Nếu không xác định và chuẩn bị tâm thế cho một đua đường dài, để chuẩn bị kỹ, sức cạnh tranh cho hàng nội vẫn là câu chuyện sẽ còn bàn cãi trong tương lai.
Dĩ nhiên, cơ hội trong kinh doanh là điều rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là cách nắm lấy cơ hội như thế nào. Trong suy nghĩ đi theo đèn vàng của người kinh doanh, việc nắm lấy cơ hội theo cách đó có vẻ như phù hợp với cuộc đua cự ly ngắn. Với các cuộc đua đường trường, xuất phát nhanh hay chậm tùy thuộc vào cách phân phối sức và thể trạng của người chạy.
Ở giấc mơ công nghiệp điện tử Việt Nam không thành, ngoài nguyên do sai lầm về chiến lược, không chỉ có doanh nghiệp nước ngoài tận dụng hàng rào bảo hộ thuế để làm giàu hợp pháp, mà doanh nghiệp trong nước cũng là vận động viên chạy đường ngắn. Không lấy làm lạ khi hầu hết doanh nghiệp sản xuất xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên bài toán thương mại. Kết quả là hàng trong nước có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Đã vậy, các toan tính kinh doanh đều là ngắn hạn, mang tính thời vụ. VTB làm hàng điện tử, nhảy sang lắp ráp máy tính.
Thế nên, sự thắng thế của hàng điện tử Việt Nam chỉ mang tính giai đoạn. Khi hàng rào quan thuế bị dỡ bỏ theo các cam kết hội nhập khu vực và quốc tế, hàng điện tử trong nước lâm cảnh chợ chiều. Khi mảng máy tính hết ăn bởi các doanh nghiệp máy tính mạnh của nước ngoài như HP, Dell đưa máy bộ giá rẻ vào Việt Nam, thì VTB chuyển sang điện gia dụng. Với cách xoay trở nay lắp ráp cái này, kia lắp cái khác như vậy, năng lực cốt lõi của một đơn vị sản xuất điện tử khó lòng được nâng cao, cũng như khó lấn sang các công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị.
Câu chuyện của VTB không phải là cá biệt. Có thể thấy doanh nghiệp làm bánh đi làm địa ốc. Doanh nghiệp máy tính đi làm ngân hàng. Dẫu chiến lược nhắm tới người dùng điện tử của một doanh nghiệp kinh doanh máy tính và phần mềm có sức thuyết phục, giới phân tích vẫn phải nghi ngờ về khả năng thực hiện khi họ “ôm đồm” từ chứng khoán, ngân hàng, tới sản xuất máy tính hay mới đây là sản xuất điện thoại. Làng công nghệ thông tin thế giới không thiếu các anh tài như Microsoft, IBM, Google. Các “đại gia” công nghệ này dù hoạt động ở các nước phát triển vẫn chăm chút cho mảng miếng kinh doanh dựa trên nền năng lực lõi đã được hoạch định sẵn.
Nếu không xác định và chuẩn bị tâm thế cho một đua đường dài, để chuẩn bị kỹ, sức cạnh tranh cho hàng nội vẫn là câu chuyện sẽ còn bàn cãi trong tương lai.
Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009
Thay nhà báo bằng nhà thơ
Tổng biên tập Dov Alfon của tờ Haaretz, nhật báo uy tín xuất bản bằng tiếng Do Thái ở Israel, một ngày thứ tư nọ (10.6), quyết định cho 31 phóng viên bản báo nghỉ việc một ngày. Làm thay công việc của họ là các nhà thơ, nhà văn, viết hầu hết ở các mục từ chính trị tới kinh tế, thời tiết, chỉ trừ trang thể thao.
Haaretz ra đời năm 1918, tuy phát hành mỗi ngày chỉ khoảng 50.000 bản, thấp hơn nhiều so với hai tờ báo khác, nhưng rất có uy tín vì đối tượng đọc chọn lọc. Các nhà phân tích đã ví nhật báo này với New York Times ở Mỹ. Trong ngày thử nghiệm đó, các quy phạm báo chí bị bỏ qua một bên. Các nhà văn, nhà thơ tự do dùng ngôi thứ nhất. Viết về chứng khoán, tác giả Avri Herling viết: "Mọi thứ đều tốt. Mọi thứ đều diễn ra như thường nhật. Dow Jones mua bán như bình thường, đóng cửa ở mức.... ". Mục dự báo thời tiết được đặt tựa: Bài Sonet mùa hè. (“Summer is the pencil/that is least sharp/in the seasons’ pencil case.” Đặc biệt, tiểu thuyết gia 79 tuổi Yoram Kaniuk có bài tường trình về cuộc sống của đôi tình nhân mắc bệnh ung thư. Bản thân ông này cũng mắc bệnh ung thư. Kaniuk thừa nhận ông viết bài dưới con mắt nhà văn hơn là nhà báo. Ông cho biết: "Nếu bạn thấy điều tốt đẹp và cảm nhận được nó, tại sao lại không viết vậy?"
Sau cuộc thử nghiệm, ông Alfon nhận xét: "Sự kiện nào trong ngày là quan trọng nhất trong mắt các nhà văn? Họ đã viết và cách họ chọn làm chúng tôi sửng sốt".
Haaretz ra đời năm 1918, tuy phát hành mỗi ngày chỉ khoảng 50.000 bản, thấp hơn nhiều so với hai tờ báo khác, nhưng rất có uy tín vì đối tượng đọc chọn lọc. Các nhà phân tích đã ví nhật báo này với New York Times ở Mỹ. Trong ngày thử nghiệm đó, các quy phạm báo chí bị bỏ qua một bên. Các nhà văn, nhà thơ tự do dùng ngôi thứ nhất. Viết về chứng khoán, tác giả Avri Herling viết: "Mọi thứ đều tốt. Mọi thứ đều diễn ra như thường nhật. Dow Jones mua bán như bình thường, đóng cửa ở mức.... ". Mục dự báo thời tiết được đặt tựa: Bài Sonet mùa hè. (“Summer is the pencil/that is least sharp/in the seasons’ pencil case.” Đặc biệt, tiểu thuyết gia 79 tuổi Yoram Kaniuk có bài tường trình về cuộc sống của đôi tình nhân mắc bệnh ung thư. Bản thân ông này cũng mắc bệnh ung thư. Kaniuk thừa nhận ông viết bài dưới con mắt nhà văn hơn là nhà báo. Ông cho biết: "Nếu bạn thấy điều tốt đẹp và cảm nhận được nó, tại sao lại không viết vậy?"
Sau cuộc thử nghiệm, ông Alfon nhận xét: "Sự kiện nào trong ngày là quan trọng nhất trong mắt các nhà văn? Họ đã viết và cách họ chọn làm chúng tôi sửng sốt".
Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009
Ông vua có lỗ tai lừa hay nguồn gốc truyền thông
Thế kỷ mười mấy (thứ lỗi cho trí nhớ của U40), ông già họ Gu sáng chế ra chữ chì, mở đầu cho báo in. Sau khi có điện và sóng vô tuyến, radio ra đời. Cái TV thử nghiệm vào thập niên 30 của thế kỷ 20. Khi chữ @ đầu tiên xuất hiện ở thập niên 70 mở màn cho kỷ nguyên internet, để rồi báo điện tử ra đời. Lược sử phương tiện thông tin đại chúng theo công nghệ có thể tóm tắt như vậy. Nhưng còn trước đó?
Bạn có thể không tin, nhưng người viết cho rằng, có thể xem truyền thông bãi sậy là tổ tiên của phương tiện thông tin đại chúng. (Bạn đừng lầm lẫn bãi sậy trong entry này với vua họ Triệu ở nước Nam nha). Vì không nén nổi "cảm hứng trào dâng" sau khi biết ông vua có lỗ tai lừa, viên thợ cạo đành ra đào hố, nói vọng xuống đất thông tin này. Dù đã lấp đất chôn chặt bí mật chết người đó, thông tin truyền từ đất lên cây sậy rồi theo gió rì rào đưa đi. Bí mật đã bật mí như thế đó.
Bạn thử đoán xem, các quan trong triều sẽ làm gì để ngăn chặn thông tin lan truyền nhỉ?
Bạn có thể không tin, nhưng người viết cho rằng, có thể xem truyền thông bãi sậy là tổ tiên của phương tiện thông tin đại chúng. (Bạn đừng lầm lẫn bãi sậy trong entry này với vua họ Triệu ở nước Nam nha). Vì không nén nổi "cảm hứng trào dâng" sau khi biết ông vua có lỗ tai lừa, viên thợ cạo đành ra đào hố, nói vọng xuống đất thông tin này. Dù đã lấp đất chôn chặt bí mật chết người đó, thông tin truyền từ đất lên cây sậy rồi theo gió rì rào đưa đi. Bí mật đã bật mí như thế đó.
Bạn thử đoán xem, các quan trong triều sẽ làm gì để ngăn chặn thông tin lan truyền nhỉ?
Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009
Tăng trưởng quảng cáo
Theo Nielsen, quảng cáo tại 5 nước India (29%), Indonesia (19%), China (17%), Malaysia (12%), Philippines (11%) trong năm 2008 vẫn tăng. Con số trong ngoặc là mức tăng trưởng so với năm 2007.
Về các nước trong khu vực Đông Nam Á, báo cáo của Nielsen chỉ ra:
Đáng chú ý, ở Indonesia, quảng cáo báo in tăng 29%, tạp chí tăng 22%. Malaysia có mức tăng trưởng quảng cáo truyền hình len tới 20%, báo in chỉ có 8%, còn tạp chí giảm 6%. Philippines có vẻ như ngược lại xu hướng của Malaysia, khi quảng cáo tạp chí dẫn đầu, với 20%, xếp sau là truyền hình và báo in với mức tương ứng là 11% và 5%. Trong năm nước ASSEAN, chỉ có Thailand giảm sút chi phí dành cho quảng cáo.
Về các nước trong khu vực Đông Nam Á, báo cáo của Nielsen chỉ ra:
Đáng chú ý, ở Indonesia, quảng cáo báo in tăng 29%, tạp chí tăng 22%. Malaysia có mức tăng trưởng quảng cáo truyền hình len tới 20%, báo in chỉ có 8%, còn tạp chí giảm 6%. Philippines có vẻ như ngược lại xu hướng của Malaysia, khi quảng cáo tạp chí dẫn đầu, với 20%, xếp sau là truyền hình và báo in với mức tương ứng là 11% và 5%. Trong năm nước ASSEAN, chỉ có Thailand giảm sút chi phí dành cho quảng cáo.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)