Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

Sữa và câu chuyện niềm tin

Vài tuần trước, thông tin về giá sữa ngoại ở mức cao "phi lý" như một số nhà quản lý tràn ngập trên các báo. Kết quả là cơ quan quản lý "bó tay" với giá sữa ngoại vì đề nghị đưa loại hàng này vào danh mục hàng phải quản lý giá vẫn trong giai đoạn chờ xem xét. (Bàn về phi lý hay hợp lý và làm sao để giá sữa nhập khẩu không quá cao nằm ngoài phạm vi entry này, hẹn dịp khác sẽ bàn luận).
Hai ngày qua, thông tin về hàm lượng đạm thấp ở một số nhãn hiệu sữa trong nước lại thay nhau ngự trị trên các trang báo. Có lẽ, liều lượng thông tin bàn luận quanh chuyện này sẽ có mức độ không thua gì chủ đề giá "phi lý" của sữa nhập khẩu. Tờ Tiền phong sáng 15.7, giật tít "Hầu hết là sữa trong nước" khi nói về sữa thiếu đạm. Cách đặt tít này đã gói gọn được mục đích (nếu có) của sự xuất hiện luồng thông tin về chất lượng sữa sản xuất trong nước.
Qua hai đợt thông tin về giá và chất lượng, có thể nhận xét sau:
Nhận xét 1: Thông tin đợt 1 tập trung vào sữa nhập khẩu, được làm khá công phu, bài bản khi có thông tin đối chiếu giá ở VN và các nước lân cận, kể cả chính sách thuế nhập khẩu ở các nước. Người có lợi từ đợt thông tin này là sữa sản xuất trong nước. Muốn biết ai hưởng lợi nhiều nhất thì đành chịu, vì không có số liệu và cứ liệu, chưa kể tới khó phân biệt người thụ hưởng trực tiếp và người ăn theo. Một điều khá lạ, không thấy công bố chênh lệch giữa giá nguyên liệu nhập khẩu để tính giá thành và giá bán của sữa sản xuất trong nước. Không loại trừ khả năng con số chênh lệch cũng không thua kém gì sữa ngoại nhập khẩu.
Nhận xét 2: Thông tin đợt 2 như "một đợt đánh trả" của sữa nhập khẩu nhắm vào sữa sản xuất trong nước. Cách tóm gọn vấn đề như của báo Tiền phong là điều mà các hãng sữa nước ngoài đang mong đợi. Thứ nhất, nó là đòn chí mạng khiến người tiêu dùng không tin vào chất lượng của sữa sản xuất trong nước. Thứ hai, nó biện hộ cho giá bán cao của sữa ngoại qua sự liên tưởng chất lượng cao - an toàn - giá cao. Thứ ba và rất quan trọng, là tạo sự liên tưởng về chất lượng sữa sản xuất trong nước nói chung, không phân biệt là cơ sở sản xuất sữa theo công nghệ "cuốc xẻng", nghĩa là mua sữa nguyên liệu về trộn với vi chất (DHA, vitamin) bằng phương pháp thủ công, với các hãng sản xuất có đầu tư dây chuyền công nghệ.
Nhận xét 3: Cả hai đợt thông tin đều không thể giải quyết vấn đề giá và chất lượng một cách thấu đáo. Lý do đơn giản là cơ chế thị trường đang bị khiếm khuyết. Xét về các lực lượng tham gia thị trường, có các đại diện sau: nhà nước với vai trò quản lý và giám sát luật chơi; doanh nghiệp và người tiêu dùng. Trong đó, doanh nghiệp tạm chia thành hai nhóm là nhập khẩu và sản xuất trong nước. Hai nhóm này có thực lực để thực thi các chiến dịch quảng bá, PR, lobby để tạo ra định hướng tiêu dùng theo cách có lợi nhất cho doanh nghiệp. Trong khi đó, người tiêu dùng tuy đông nhưng lại thiếu một tiếng nói đại diện, dù hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng đang tồn tại.
Nhận xét 4: Người tiêu dùng có thể đặt niềm tin vào sữa sản xuất trong nước được hay không khi xuất hiện các thông tin sữa có mạt kim loại, sữa có melamine và sữa hàm lượng đạm thấp (2 lần xuất hiện)? Dễ thấy là các công ty sữa trong nước, trừ một số ít, có khả năng tài chính để xây dựng hình ảnh, quảng báo thương hiệu, còn lại là doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm ăn "bóc ngắn, cắn dài". Để có một thị trường sữa phát triển dựa trên cạnh tranh lành mạnh, không chỉ trông đợi vào vai trò của nhà nước trong quản lý giá hay cục quản lý cạnh tranh để xử phạt các hành vi thông đồng ấn định giá như Hàn Quốc đã làm với nước giải khát, mà còn phải dựa vào vai trò của hiệp hội các nhà sản xuất sữa trong nước. Hiệp hội này không thể chỉ là tiếng nói đại diện để xin tăng giá như hiệp hội taxi, mà còn xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng và giám sát chặt chẽ thực thi chất lượng. Khi doanh nghiệp nào đó bị gạch tên khỏi hiệp hội vì có hành vi gian dối, lừa gạt người tiêu dùng mà kết quả khiến doanh nghiệp có thể phải phá sản như sữa Tam Lộc từng bị ở Trung Quốc, thì nguời tiêu dùng mới có cơ sở để đặt niềm tin, thay vì trông chờ vào các đơn vị quản lý như thanh tra y tế, cục vệ sinh an toàn thực phẩm, cục quản lý cạnh tranh hay chờ sự lớn mạnh và hoạt động thực chất, hữu hiệu hơn của hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng.

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

Thiếu men cho sáng tạo

Giải nhất cuộc thi phát minh năm nay của tạp chí Khoa học phổ thông (Mỹ) được trao cho xe tăng tự hành không người lái với tốc độ tối đa lên tới 90km/h. Đây là thành quả chín năm ròng miệt mài nghiên cứu, chế tạo của hai anh em nhà Howe là Geoff và Mike.
Trong khi Mike là nhà tư vấn tài chính, Geoff làm đốc công cho một nhà máy phân bón. Kiến thức cơ khí, động lực do họ tự học. Trình diễn mô hình tại hội chợ xe hơi washington năm 2005, họ đã được bộ Quốc phòng Mỹ đầu tư 1,25 triệu USD để phát triển sản phẩm tự chế này. Cũng từ đó, công ty công nghệ Howe và Howe ra đời. Năm 2005, ông nông dân tỉnh Tây Ninh là Trần Quốc Hải cũng có bước khởi đầu như anh em nhà Howe, khi họ thử nghiệm chế tạo máy bay trực thăng. Sau đó, năm 2007, bộ Quốc phòng và bộ Khoa học công nghệ cùng chuyên gia hàng không, thiết bị chuyên ngành đánh giá, máy bay được chế tạo không đủ điều kiện kỹ thuật, không bảo đảm an toàn. Theo VNN, máy bay của các nhà sáng chế nông dân “không có bản vẽ thiết kế, không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật làm cơ sở đánh giá tính chất khí động học, độ bền kết cấu...”.
Trao đổi với ông Trần Quốc Hải, mất sáu năm mới hoàn thành được chiếc máy bay đầu tiên. “Chiếc thứ hai chỉ mất sáu tháng” – ông Hải nói. Tuy không được phép bay, nhưng chiếc máy bay trực thăng do ông Hải tự chế đã được đưa đi triển lãm ở nước ngoài trước khi được một viện bảo tàng ở New York mua lại để trưng bày. Chiếc thứ hai đã được trưng bày ở Áo, Singapore và tháng 8 năm nay sẽ sang Nhật. Ông Hải cho biết, tiền bán chiếc máy bay đầu cũng đủ trang trải kinh phí mua sắm động cơ, chế tạo thiết bị.
Chiếc máy bay đầu tiên không thể trưng bày ở New York, theo ông Hải, nếu không có sự giúp đỡ tài chính của ông Lê Văn Danh. Ông Hải cũng không có nhiều điều kiện tiếp cận kiến thức khoa học công nghệ như anh em nhà Howe. Môi trường nghiên cứu và kinh doanh mà ông Hải đang sống cũng thiếu các doanh nghiệp chấp nhận đầu tư mạo hiểm từ các ý tưởng phát minh, sáng chế tưởng chừng như không thể có như cách một nông dân như ông Hải nghiên cứu và thiết kế máy bay.
Ông Hải giờ đã hiểu rõ quy trình và thủ tục khi chế tạo các vật thể bay, nên quay sang thiết kế máy công cụ. “Nói chung cũng lấy nó nuôi nó được” – ông Hải nói về máy tuốt lá đang bán cho nông dân trong vùng. “Tôi chế tạo những gì tôi nghiên cứu” – ông Hải nói về các sản phẩm đang nghiên cứu như máy tuốt lá hay robot tự hành. Nhưng không quen và không có kiên thức về cách thức tổ chức nghiên cứu và sản xuất, ông không quen và chẳng nghĩ đến việc lập ra công ty công nghệ mang tên ông. “Tôi vẫn chờ đến khi có điều kiện để xây dựng xưởng sản xuất bài bản, tiêu chuẩn hóa. Thị trường máy nông nghiệp vẫn còn nhiều đất để phát triển” – ông Hải nói.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009

Cuộc đua đường dài

Một doanh nhân có tiếng ở đất Bắc từ thập niên 1980 đưa ra triết lý đèn vàng. Nghĩa là phải chớp thời cơ để đi trước, bởi đợi đèn xanh thì xuất phát ngang nhau. Không may, ông phải hai lần vào tù vì cách đi lúc đèn mới vàng như vậy.
Dĩ nhiên, cơ hội trong kinh doanh là điều rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là cách nắm lấy cơ hội như thế nào. Trong suy nghĩ đi theo đèn vàng của người kinh doanh, việc nắm lấy cơ hội theo cách đó có vẻ như phù hợp với cuộc đua cự ly ngắn. Với các cuộc đua đường trường, xuất phát nhanh hay chậm tùy thuộc vào cách phân phối sức và thể trạng của người chạy.
Ở giấc mơ công nghiệp điện tử Việt Nam không thành, ngoài nguyên do sai lầm về chiến lược, không chỉ có doanh nghiệp nước ngoài tận dụng hàng rào bảo hộ thuế để làm giàu hợp pháp, mà doanh nghiệp trong nước cũng là vận động viên chạy đường ngắn. Không lấy làm lạ khi hầu hết doanh nghiệp sản xuất xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên bài toán thương mại. Kết quả là hàng trong nước có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Đã vậy, các toan tính kinh doanh đều là ngắn hạn, mang tính thời vụ. VTB làm hàng điện tử, nhảy sang lắp ráp máy tính.
Thế nên, sự thắng thế của hàng điện tử Việt Nam chỉ mang tính giai đoạn. Khi hàng rào quan thuế bị dỡ bỏ theo các cam kết hội nhập khu vực và quốc tế, hàng điện tử trong nước lâm cảnh chợ chiều. Khi mảng máy tính hết ăn bởi các doanh nghiệp máy tính mạnh của nước ngoài như HP, Dell đưa máy bộ giá rẻ vào Việt Nam, thì VTB chuyển sang điện gia dụng. Với cách xoay trở nay lắp ráp cái này, kia lắp cái khác như vậy, năng lực cốt lõi của một đơn vị sản xuất điện tử khó lòng được nâng cao, cũng như khó lấn sang các công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị.
Câu chuyện của VTB không phải là cá biệt. Có thể thấy doanh nghiệp làm bánh đi làm địa ốc. Doanh nghiệp máy tính đi làm ngân hàng. Dẫu chiến lược nhắm tới người dùng điện tử của một doanh nghiệp kinh doanh máy tính và phần mềm có sức thuyết phục, giới phân tích vẫn phải nghi ngờ về khả năng thực hiện khi họ “ôm đồm” từ chứng khoán, ngân hàng, tới sản xuất máy tính hay mới đây là sản xuất điện thoại. Làng công nghệ thông tin thế giới không thiếu các anh tài như Microsoft, IBM, Google. Các “đại gia” công nghệ này dù hoạt động ở các nước phát triển vẫn chăm chút cho mảng miếng kinh doanh dựa trên nền năng lực lõi đã được hoạch định sẵn.
Nếu không xác định và chuẩn bị tâm thế cho một đua đường dài, để chuẩn bị kỹ, sức cạnh tranh cho hàng nội vẫn là câu chuyện sẽ còn bàn cãi trong tương lai.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009

Thay nhà báo bằng nhà thơ

Tổng biên tập Dov Alfon của tờ Haaretz, nhật báo uy tín xuất bản bằng tiếng Do Thái ở Israel, một ngày thứ tư nọ (10.6), quyết định cho 31 phóng viên bản báo nghỉ việc một ngày. Làm thay công việc của họ là các nhà thơ, nhà văn, viết hầu hết ở các mục từ chính trị tới kinh tế, thời tiết, chỉ trừ trang thể thao.
Haaretz ra đời năm 1918, tuy phát hành mỗi ngày chỉ khoảng 50.000 bản, thấp hơn nhiều so với hai tờ báo khác, nhưng rất có uy tín vì đối tượng đọc chọn lọc. Các nhà phân tích đã ví nhật báo này với New York Times ở Mỹ. Trong ngày thử nghiệm đó, các quy phạm báo chí bị bỏ qua một bên. Các nhà văn, nhà thơ tự do dùng ngôi thứ nhất. Viết về chứng khoán, tác giả Avri Herling viết: "Mọi thứ đều tốt. Mọi thứ đều diễn ra như thường nhật. Dow Jones mua bán như bình thường, đóng cửa ở mức.... ". Mục dự báo thời tiết được đặt tựa: Bài Sonet mùa hè. (“Summer is the pencil/that is least sharp/in the seasons’ pencil case.” Đặc biệt, tiểu thuyết gia 79 tuổi Yoram Kaniuk có bài tường trình về cuộc sống của đôi tình nhân mắc bệnh ung thư. Bản thân ông này cũng mắc bệnh ung thư. Kaniuk thừa nhận ông viết bài dưới con mắt nhà văn hơn là nhà báo. Ông cho biết: "Nếu bạn thấy điều tốt đẹp và cảm nhận được nó, tại sao lại không viết vậy?"
Sau cuộc thử nghiệm, ông Alfon nhận xét: "Sự kiện nào trong ngày là quan trọng nhất trong mắt các nhà văn? Họ đã viết và cách họ chọn làm chúng tôi sửng sốt".

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Ông vua có lỗ tai lừa hay nguồn gốc truyền thông

Thế kỷ mười mấy (thứ lỗi cho trí nhớ của U40), ông già họ Gu sáng chế ra chữ chì, mở đầu cho báo in. Sau khi có điện và sóng vô tuyến, radio ra đời. Cái TV thử nghiệm vào thập niên 30 của thế kỷ 20. Khi chữ @ đầu tiên xuất hiện ở thập niên 70 mở màn cho kỷ nguyên internet, để rồi báo điện tử ra đời. Lược sử phương tiện thông tin đại chúng theo công nghệ có thể tóm tắt như vậy. Nhưng còn trước đó?
Bạn có thể không tin, nhưng người viết cho rằng, có thể xem truyền thông bãi sậy là tổ tiên của phương tiện thông tin đại chúng. (Bạn đừng lầm lẫn bãi sậy trong entry này với vua họ Triệu ở nước Nam nha). Vì không nén nổi "cảm hứng trào dâng" sau khi biết ông vua có lỗ tai lừa, viên thợ cạo đành ra đào hố, nói vọng xuống đất thông tin này. Dù đã lấp đất chôn chặt bí mật chết người đó, thông tin truyền từ đất lên cây sậy rồi theo gió rì rào đưa đi. Bí mật đã bật mí như thế đó.
Bạn thử đoán xem, các quan trong triều sẽ làm gì để ngăn chặn thông tin lan truyền nhỉ?

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Tăng trưởng quảng cáo

Theo Nielsen, quảng cáo tại 5 nước India (29%), Indonesia (19%), China (17%), Malaysia (12%), Philippines (11%) trong năm 2008 vẫn tăng. Con số trong ngoặc là mức tăng trưởng so với năm 2007.
Về các nước trong khu vực Đông Nam Á, báo cáo của Nielsen chỉ ra:
Đáng chú ý, ở Indonesia, quảng cáo báo in tăng 29%, tạp chí tăng 22%. Malaysia có mức tăng trưởng quảng cáo truyền hình len tới 20%, báo in chỉ có 8%, còn tạp chí giảm 6%. Philippines có vẻ như ngược lại xu hướng của Malaysia, khi quảng cáo tạp chí dẫn đầu, với 20%, xếp sau là truyền hình và báo in với mức tương ứng là 11% và 5%. Trong năm nước ASSEAN, chỉ có Thailand giảm sút chi phí dành cho quảng cáo.

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2009

Nghiên cứu theo đơn đặt hàng II

Trong entry trước, tôi đã đề cập đến đơn đặt hàng mà kết quả được cho trước, chỉ cần đơn vị nghiên cứu đồng ý, thực hiện làm sao cho ra đúng kết quả của bên đặt là được. Tuy có đơn vị từ chối, nhưng cũng có nơi khác nhận.
Trùng hợp ngẫu nhiên với nội dung chiến dịch trên, là bài báo xuất hiện trên TT. Từ nội dung bài viết, có thể thấy làn sóng các thương hiệu nhỏ xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam sẽ biến đất nước hình chữ S này thành bãi rác công nghiệp trong tương lai. Nếu theo luận điểm này, chỉ có các anh lớn như Nokia mới nghĩ tới môi trường.
Một thông điệp khác là rủi ro cho người dùng khi mua máy từ các nhãn hiệu nhập khẩu từ Trung Quốc.
Vài suy ngẫm:
Suy ngẫm 1: Nokia sẽ có trách nhiệm gì với đống rác mà họ mang vào Việt Nam trong suốt mười mấy năm qua? Nên nhớ rằng, hãng đang chiếm thị phần lớn nhất ở VN, nên không thể chối bỏ trách nhiệm này. Hay ở đây, sẽ áp dụng nguyên tắc "bất hồi tố".
Suy ngẫm 2: Cứ suy nghĩ lối nông dân ăn chắc mặc bền, một đời ta, ba đời nó. Nếu 1 máy có thương hiệu lớn giá gấp đôi, gấp ba, thì mua máy rẻ, có khi còn được xài tới hai máy, cũng được 4-5 năm. Nên nhớ, vòng đời của điện thoại di động ở Việt Nam, hiện chỉ còn 9-12 tháng.
Suy ngẫm 3: Tôi có ông bạn làm nghề lái xe tải, thường phải làm việc đêm. Nếu không có công nghệ tàu, thì ông bạn tôi không thể giải trí xem TV khi chờ lấy hàng, qua điện thoại di động. Với mức giá dưới 2 triệu đồng, ông bạn tôi có nhiều lựa chọn, trong khi 1 chiếc điện thoại xịn, có khi ông bạn tôi chở luôn cái TV đi theo, còn kinh tế hơn.
Update 1: Phát phát hiệu mở màn cho chiến dịch này được khởi động ở Thanh Niên (xem ở đây). Có lẽ, cao trào sẽ là công bố kết quả nghiên cứu (chưa rõ đơn vị nào thực hiện).
Comment1: Người phụ trách chiến dịch này của Nokia sẽ "ăn đòn" vì trong bài trên TN có 1 sơ suất sau. Trong bài có câu: "Trước kia, người ta chỉ cảnh báo về các dòng sản phẩm ĐTDĐ trôi nổi tại các cửa hàng nhỏ lẻ thì nay khách hàng còn dễ dàng nhận thấy những “họ hàng” của dòng hàng trôi nổi đang xuất hiện rất rộng rãi tại các hệ thống siêu thị ĐTDĐ".
Cách viết này, vô tình hay cố ý, đẩy chủ các hệ thống siêu thị đứng về phía các thương hiệu nhỏ. Bạn thử nghĩ rằng, nếu tất cả các hệ thống siêu thị quay lại chỉ trích Nokia thì kết quả sẽ ra sao. Ngoài ra, luận cứ bài viết trên không thuyết phục. Khi nói về "nhái" kiểu dáng, người vạch chiến dịch này quên mất rằng, không có 1 hãng nào đăng ký sở hữu kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam. (Trước kia, Honda từng mắc lỗi này, sau khi thực hiện chiến dịch xong, đã phải đăng ký). Nên nhớ rằng, sản phẩm điện thoại di động có vòng đời rất ngắn, chờ 6 tháng đăng ký thì mẫu đã bị bỏ rồi. Cho nên câu chuyện "giống y chang" không có gì để bàn. Chưa kể là làng di động từng chứng kiến cảnh giống y chang rồi, thử hỏi Samsung mẫu cảm ứng có gì khác với iPhone...
Cũng là hàng OEM, O2 (Anh) khác gì Dopod, bởi cùng OEM ở HTC. Sự khác biệt ở các sản phẩm không nằm ở mẫu mã mà các tiện ích mang lại.