Vở tuồng giá vàng leo thang đã hạ màn chiều 11.11 sau khi thống đốc ngân hàng nhà nước chấp thuận cho các tổ chức trong nước được nhập khẩu vàng. Quyết định này được đưa ra sau cao trào giá vàng lên mức 29,2 triệu đồng mỗi lượng vàng SJC, có nơi lên tới 29,5 triệu đồng.
Sau khi nút thắt cấm nhập khẩu vàng được cởi bỏ, giá vàng lập tức hạ nhiệt vào cuối giờ chiều hôm kia, ở mức 27,8 triệu đồng mỗi lượng. Diễn biến sóng vàng hôm thứ tư vừa rồi khiến không ít người lỡ mua ở đỉnh sóng phải cắn răng bán lại, chịu lỗ hoặc tự an ủi rằng vàng sẽ lên giá vào một thời điểm nào đó chưa rõ. ‘
Bạn đồng hành với vàng trong tiến trình leo thang vừa qua, là giá USD trên thị trường tự do. Một ngày trước khi có cao trào vàng, người ta chỉ mất chưa tới 19 ngàn đồng để có một USD. Thì trong ngày 11.11, đầu ngày họ phải trả tới 19,2 ngàn đông và đỉnh điểm lúc 11 giờ trưa là 19,8 ngàn đồng.
Theo thống đốc Nguyễn Văn Giàu, bàn tay đầu cơ đã đẩy giá vàng thoát khỏi lực chi phối của quy luật cung cầu. Quyết định của người chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ được đưa ra trong bối cảnh chính sách này phải bảo đảm mục tiêu ổn định vĩ mô và kiềm chế lạm phát, theo phân tích của tiến sĩ Trần Hoàng Ngân. Thành viên của hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ này cho rằng, mục đích chính của việc cho phép nhập khẩu vàng chủ yếu là ổn định tâm lý người dân thông qua khả năng bảo đảm nguồn cung vàng. “Lượng nhập khẩu vàng sẽ không nhiều do Việt Nam đã nhập khẩu khá nhiều vàng trong những năm qua” – ông Ngân nói. Theo ông Giàu, trong ba năm qua, Việt Nam đã nhập 233 tấn vàng nhưng mới tái xuất 38 tấn trong năm ngoái và đầu năm nay.
Số lượng vàng mà tổ chức và cá nhân trong nước nhiều khả năng vượt quá 200 tấn vàng mới nhập khẩu của ba năm gần đây. Theo giới phân tích, nếu không nắm giữ một lượng lớn nhất định, khó lòng có thể tạo cơn sốt giá. Trong năm tháng trở lại đây, có nhiều ý kiến đề nghị cho nhập khẩu vàng. Tuy việc xuất hay nhập vàng không ảnh hưởng tới tình trạng nhập siêu hay xuất siêu, nhưng việc cho nhập khẩu vàng, đồng nghĩa với việc nguồn cung USD trên hệ thống sẽ giảm. Đây cũng là mấu chốt khiến Việt Nam không cho nhập vàng từ tháng 5.2008. Cũng từ đây, giá vàng trong nước có cơ sở để tăng giá quá mức. Ở lúc đỉnh điểm, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới trên 3,6 triệu đồng.
Theo ước tính của ngân hàng thế giới công bố tháng 11.2009, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đủ cho ba tháng rưỡi nhập khẩu. Trong khi báo cáo của thủ tướng tại Quốc hội hồi tháng 10 là 12 tuần nhập khẩu. Số liệu của ngân hàng phát triển châu Á công bố hồi tháng 7 vừa qua, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam dưới 18 tỉ USD, giảm hơn 1/5 so với cuối năm trước. Theo số liệu xuất nhập khẩu 10 tháng, trung bình mỗi tuần, Việt Nam nhập siêu 743 triệu USD. Như vậy, về mặt lý thuyết, doanh nghiệp sẽ phải mua thêm 148 triệu USD mỗi ngày để thanh toán hợp đồng xuất khẩu. Và khoản thiếu hụt ngoại tệ này sẽ được lấy từ nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài, các khoản vay nước ngoài và kiều hối. Trong lúc kinh tế toàn cầu mới có dấu hiệu hồi phục, các nguồn cung ứng ngoại tệ kể trên nhiều khả năng sẽ sụt giảm đáng kể. Theo ông Giàu, kiều hối năm nay ở mức 6,2 tỉ USD, giảm hơn 10% so với năm trước.
Việc thực thi chính sách tiền tệ linh hoạt như hiện nay, theo tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, tránh tình trạng lạm phát kép khi giá hàng hóa thế giới tăng trở lại và hạn chế nhập siêu, cũng như một phần trợ giúp doanh nghiệp xuất khẩu. Dù ngân hàng nhà nước đã nới biên độ tỉ giá lên 5%, cũng như cuối tuần trước điều chỉnh tỉ giá liên ngân hàng lên mức 17.010 đồng cho mỗi USD, thì thực tế, doanh nghiệp vẫn khó mua USD. Thị trường khó vận hành thông suốt nếu doanh nghiệp không tìm được nguồn mua USD trôi nổi, với giá cao hơn. Đây cũng là cơ sở để việc đầu cơ vàng vừa qua thành công. Tương ứng với giá vàng đầu ngày 11 ở mức trên 27 triệu đồng, tương đương với giá trị mỗi USD khoảng 20.144 đồng. Lúc này, giá USD trên thị trường là 19.100 đồng.
Theo ông Ngân, giá USD hợp lý sẽ xoay quanh mức 18.000 đồng. Mức điều chỉnh này có thể sát hơn với mong muốn của những người đang nắm giữ USD. Nhưng với người điều hành chính sách tiền tệ như ông Giàu, việc tiền đồng giảm giá khiến cho ngân sách nhà nước phải gánh thêm nợ. Tại cuộc hội thảo bàn về giải pháp chống khủng hoảng kinh tế tổ chức tại Đà Lạt trong tháng 9 vừa qua, ông Giàu phân tích rằng, nếu tiền đồng mất giá thêm 5%, thì ngân sách phải gánh thêm 26 ngàn tỉ đồng mỗi năm.
Một ngày sau khi vàng đạt đỉnh, thị trường vàng trở lại giao dịch bình thường, không còn cảnh chen nhau mua vàng. Ông Trang Quang Sanh, một chuyên gia ngân hàng lâu năm, cho rằng, phí tổn để giữ ổn định cho thị trường vàng có tác động tới thị trường ngoại tệ. Với người mua USD trong ngày 11.11, mức giá xấp xỉ 20 ngàn đồng cho mỗi USD xem ra quá cao. Nhưng với nhà đầu tư nước ngoài, ngưỡng này không phải là mới. Cuối tháng 10, họ đã phải mua bảo hiểm rủi ro tỉ giá qua hợp đồng kỳ hạn 12 tháng, với giá 19.500 đồng mỗi USD. Thị trường, dẫu sao, cũng vừa chứng kiến tuồng vàng đã vãn. Liệu có còn tuồng mới?
(Một bản ngắn hơn đăng ở Sài Gòn Tiếp Thị ra ngày 12.11.2009)
Hiển thị các bài đăng có nhãn policy-making. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn policy-making. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009
Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009
Tránh thảm họa từ tài nguyên
Khi phát hiện ra mỏ dầu ở Ghana năm 2007, trong khi nhiều quan chức chính quyền tỏ ra vui mừng, xem đó là cơ hội đổi đời của đất nước, thì tổng thống nước này bình tĩnh tuyên bố: “Đôi khi, nó cũng là thảm họa”. Điều này đã từng xảy ra ở các nước đang phát triển, gây ra nghịch lý phát triển là càng phát hiện ra nhiều tài nguyên, càng dễ lâm vào tăng trưởng thấp.
Ba lý do
Có ba lý do khiến cho phát hiện tài nguyên trở thành nguy hại thường xảy ra ở các nước đang phát triển, theo nhà kinh tế Paul Collier. Thứ nhất, việc tìm thấy các nguồn tài nguyên có giá trị như dầu mỏ, than, hay bauxite, khiến cho việc phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các ngành, và do vậy, khiến cho sức cạnh tranh của một số ngành không thuộc ngành khai khoáng không cao. Các nhà kinh tế gọi đó là căn bệnh Hà Lan (Dutch Disease, xem thêm bài của Huỳnh Thế Du).
Thứ hai, giá hàng hóa dao động không ổn định, theo các chu kỳ chi tiêu tăng và giảm, hệ quả của việc đầu tư kém và chi tiêu bất tương xứng. Theo Collier, trong thời kỳ hoàng kim, một bộ trưởng của Kenya đặt ra ngân sách chi tiêu tăng tới 30 lần.
Cuối cùng, lợi tức khổng lồ và dễ dàng từ khai thác tài nguyên tác động tới quản trị, điều hành và hoạt động không hiệu quả của các định chế công. Collier đưa ra các vấn nạn như tham nhũng, nhóm lợi ích.
Các biện pháp phòng tránh
Trung tuần tháng 5, một nhóm các nhà kinh tế, trong đó có Collier và Nobel Kinh tế Mike Spence, đã nhóm họp ở Oslo và thông qua hiến chương về tài nguyên thiên nhiên. Hiến chương này thiết lập bộ quy tắc các nguyên lý kinh tế cho chính phủ và xã hội để nắm lấy cơ hội phát triển từ phát hiện tài nguyên thiên nhiên.
Những người nghi ngờ tác dụng thực tế của hiến chương có thể xem lại ví dụ cụ thể từ sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng EITI do chính phủ Anh đề xuất năm 2002. Nếu một chính phủ không làm đúng theo đó, họ sẽ phải giải thích cho nhân dân lý do không tuân thủ hiến chương hay sáng kiến trên.
Trong 12 nguyên tắc cơ bản của EITI, ngay điều đầu tiên, ghi nhận vai trò quan trọng của tài nguyên, nhưng cũng lưu ý rằng, nếu quản lý không tốt, sẽ gây ảnh hướng xấu tới phát triển kinh tế và xã hội. Đặc biệt, điều số 4 ghi rõ, chi phí và lợi nhuận từ khai thác tài nguyên sẽ giúp hình thành nên các chọn lựa xã hội thích hợp về phát triển bền vững. Điều cuối cùng ghi rõ, mọi thành phần có liên quan đều có vai trò quan trọng và có mức độ đóng góp nhất định.
Nếu một quốc gia cam kết thực hiện EITI, các hoạt động khai khoáng (mỏ, dầu khí, than đá) đều phải thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, không phân biệt đó là công ty tư nhân, nhà nước hay đầu tư nước ngoài.
Trong sáu tiêu chuẩn của EITI, điều số 5 ghi rõ: xã hội dân sự là một tác nhân thiết kế, đánh giá và giám sát hữu hiệu.
Dưới góc nhìn của Collier và EITI, thì tài nguyên bauxite của Việt Nam đứng hàng thứ ba thế giới về trữ lượng, cũng có thể là thảm họa nếu không có phương án khai thác hiệu quả.
Ba lý do
Có ba lý do khiến cho phát hiện tài nguyên trở thành nguy hại thường xảy ra ở các nước đang phát triển, theo nhà kinh tế Paul Collier. Thứ nhất, việc tìm thấy các nguồn tài nguyên có giá trị như dầu mỏ, than, hay bauxite, khiến cho việc phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các ngành, và do vậy, khiến cho sức cạnh tranh của một số ngành không thuộc ngành khai khoáng không cao. Các nhà kinh tế gọi đó là căn bệnh Hà Lan (Dutch Disease, xem thêm bài của Huỳnh Thế Du).
Thứ hai, giá hàng hóa dao động không ổn định, theo các chu kỳ chi tiêu tăng và giảm, hệ quả của việc đầu tư kém và chi tiêu bất tương xứng. Theo Collier, trong thời kỳ hoàng kim, một bộ trưởng của Kenya đặt ra ngân sách chi tiêu tăng tới 30 lần.
Cuối cùng, lợi tức khổng lồ và dễ dàng từ khai thác tài nguyên tác động tới quản trị, điều hành và hoạt động không hiệu quả của các định chế công. Collier đưa ra các vấn nạn như tham nhũng, nhóm lợi ích.
Các biện pháp phòng tránh
Trung tuần tháng 5, một nhóm các nhà kinh tế, trong đó có Collier và Nobel Kinh tế Mike Spence, đã nhóm họp ở Oslo và thông qua hiến chương về tài nguyên thiên nhiên. Hiến chương này thiết lập bộ quy tắc các nguyên lý kinh tế cho chính phủ và xã hội để nắm lấy cơ hội phát triển từ phát hiện tài nguyên thiên nhiên.
Những người nghi ngờ tác dụng thực tế của hiến chương có thể xem lại ví dụ cụ thể từ sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng EITI do chính phủ Anh đề xuất năm 2002. Nếu một chính phủ không làm đúng theo đó, họ sẽ phải giải thích cho nhân dân lý do không tuân thủ hiến chương hay sáng kiến trên.
Trong 12 nguyên tắc cơ bản của EITI, ngay điều đầu tiên, ghi nhận vai trò quan trọng của tài nguyên, nhưng cũng lưu ý rằng, nếu quản lý không tốt, sẽ gây ảnh hướng xấu tới phát triển kinh tế và xã hội. Đặc biệt, điều số 4 ghi rõ, chi phí và lợi nhuận từ khai thác tài nguyên sẽ giúp hình thành nên các chọn lựa xã hội thích hợp về phát triển bền vững. Điều cuối cùng ghi rõ, mọi thành phần có liên quan đều có vai trò quan trọng và có mức độ đóng góp nhất định.
Nếu một quốc gia cam kết thực hiện EITI, các hoạt động khai khoáng (mỏ, dầu khí, than đá) đều phải thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, không phân biệt đó là công ty tư nhân, nhà nước hay đầu tư nước ngoài.
Trong sáu tiêu chuẩn của EITI, điều số 5 ghi rõ: xã hội dân sự là một tác nhân thiết kế, đánh giá và giám sát hữu hiệu.
Dưới góc nhìn của Collier và EITI, thì tài nguyên bauxite của Việt Nam đứng hàng thứ ba thế giới về trữ lượng, cũng có thể là thảm họa nếu không có phương án khai thác hiệu quả.
Kỳ 3 Di dân Trung Quốc: Nền kinh tế thứ ba thế giới
Sau Mỹ, Nhật, nước nào có nền kinh tế đứng thứ ba thế giới? Câu trả lời không chính thức là cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài.
Khoảng 60 triệu Hoa kiều,trong đó hơn 50 triệu ở Đông Nam Á, 6,5 triệu ở bắc Mỹ. So với dân số Trung Quốc, số dân ở nước ngoài không đáng kể. Ước tính, tổng tài sản của Hoa kiều ở nước ngoài vào khoảng 200-300 tỉ USD. Nguồn lực kinh tế của khối này, theo Asia Times, có thể đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Nhật.
Nguồn lực kinh tế chủ đạo của Đông Nam Á
Hoa kiều ở Đông Nam Á không chỉ thống trị trong thương mại và dịch vụ mà còn nắm giữ ngân hàng và bất động sản. Chiếm cơ cấu nhỏ về dân số ở các nước sở tại, nhưng khả năng chi phối kinh tế của khối người Hoa là cực kỳ lớn. (Xem bảng về Hoa kiều ở Đông Nam Á và nguồn lực kinh tế).
Các số liệu trên cho thấy, nếu kinh doanh ở Đông Nam Á, bạn bắt buộc phải làm việc với cộng đồng người Hoa.
Không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong các nền kinh tế của các nước trong khu vực, thậm chí nguồn nhân lực Hoa kiều còn chi phối kinh tế lao động của một số nước. Theo tiến sĩ James Chin (Đại học Hongkong), nếu không có bổ sung nhân lực từ Trung Quốc, Campuchia sẽ gặp khó khăn.
Thách thức và cơ hội
Không thể phủ nhận đóng góp của lao động Trung Quốc cũng như vai trò của đầu tư từ nước đông dân nhất thế giới tới khu vực, nhưng sự dịch chuyển của lao động nhập cư Trung Quốc cũng như tác động của người Trung Quốc định cư khiến chính quyền sở tại của nhiều nước phải rà soát lại chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Các học giả Trung Quốc nhấn mạnh tới việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật do người nhập cư gốc Hoa mang lại trong giai đoạn hiện tại, thay vì chỉ đóng góp cơ bắp như trong thế kỷ 18 hay 19.
Trong 10 năm qua, nhà buôn, nhà thầu, kỹ sư và nhân công kỹ thuật Trung Quốc không chỉ giúp cải thiện hạ tầng giao thông ở Lào, mà còn gia tăng thương mại hai chiều giữa Lào và Trung Quốc. Ở thủ đô của Campuchia, nhà hàng của Hoa kiều vượt lên trên các nhà hàng của dân bản xứ. Tốc độ phát triển và sự hiện diện của cộng đồng người Hoa không ít thì nhiều, khiến dân địa phương lo ngại. Trong 20 năm qua, không hiếm cảnh người dân bản địa phản ứng lại cộng đồng Hoa Kiều như ở Indonesia năm 1998.
Theo Andrew Forbes, chuyên gia về Trung Quốc ở Chiang Mai (Thái Lan), khác biệt của làn sóng mới từ Trung Quốc với lớp người trước, là mối dây liên kết mật thiết hơn với đại lục. “Lớp người mới yêu nước Trung Hoa và trung thành với tổ quốc hơn” – Forbes nhận xét từ quan sát hơn 20 năm nghiên cứu Trung Quốc. Quan niệm đó được nhà nghiên cứu Trung Quốc học, Nyiri Pal, người Hungary tán đồng.
Tuy chỉ chiếm số lượng nhỏ, nhưng ảnh hưởng lâu dài từ lao động nhập cư Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á rất lớn. Thách thức lớn nhất, với các nước, là kiểm soát lao động nhập cư hợp pháp. Trong 10 năm qua, lợi nhuận từ việc đưa người sang Anh và Mỹ đã tăng gấp đôi, với mức hiện hành là 30.000 USD/người qua Anh và 70.000 USD/người sang Mỹ. Đối sách với làn sóng di dân, theo tiến sĩ John walsh (đại học Shinawatra, Thái Lan), không chỉ ở việc quy định mức lương tối thiểu, đăng ký lao động, mà còn phải tính tới chính sách lâu dài về nguồn nhân lực và bài toán an sinh xã hội. Tuy nhiên, lợi ích của Trung Quốc trong việc việc người Hoa di dân ra nước ngoài mang tính chiến lược. Trên một tạp chí Trung Quốc có trích đăng ý kiến của hội đồng nhà nước về nguồn nhân lực mới di dân, ghi rõ: “Đó là nguồn lực quan trọng trong tương lai, gúp thắt chặt quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây. Tăng cường sức mạnh của khối di dân Trung Quốc mới không chỉ mang lại ích lợi thiết thực cho Trung Quốc mà còn quảng bá hình ảnh quốc gia cũng như gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và phát triển mối quan hệ với các nước có người Trung Quốc sang định cư”.
Khoảng 60 triệu Hoa kiều,trong đó hơn 50 triệu ở Đông Nam Á, 6,5 triệu ở bắc Mỹ. So với dân số Trung Quốc, số dân ở nước ngoài không đáng kể. Ước tính, tổng tài sản của Hoa kiều ở nước ngoài vào khoảng 200-300 tỉ USD. Nguồn lực kinh tế của khối này, theo Asia Times, có thể đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Nhật.
Nguồn lực kinh tế chủ đạo của Đông Nam Á
Hoa kiều ở Đông Nam Á không chỉ thống trị trong thương mại và dịch vụ mà còn nắm giữ ngân hàng và bất động sản. Chiếm cơ cấu nhỏ về dân số ở các nước sở tại, nhưng khả năng chi phối kinh tế của khối người Hoa là cực kỳ lớn. (Xem bảng về Hoa kiều ở Đông Nam Á và nguồn lực kinh tế).
Các số liệu trên cho thấy, nếu kinh doanh ở Đông Nam Á, bạn bắt buộc phải làm việc với cộng đồng người Hoa.
Không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong các nền kinh tế của các nước trong khu vực, thậm chí nguồn nhân lực Hoa kiều còn chi phối kinh tế lao động của một số nước. Theo tiến sĩ James Chin (Đại học Hongkong), nếu không có bổ sung nhân lực từ Trung Quốc, Campuchia sẽ gặp khó khăn.
Thách thức và cơ hội
Không thể phủ nhận đóng góp của lao động Trung Quốc cũng như vai trò của đầu tư từ nước đông dân nhất thế giới tới khu vực, nhưng sự dịch chuyển của lao động nhập cư Trung Quốc cũng như tác động của người Trung Quốc định cư khiến chính quyền sở tại của nhiều nước phải rà soát lại chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Các học giả Trung Quốc nhấn mạnh tới việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật do người nhập cư gốc Hoa mang lại trong giai đoạn hiện tại, thay vì chỉ đóng góp cơ bắp như trong thế kỷ 18 hay 19.
Trong 10 năm qua, nhà buôn, nhà thầu, kỹ sư và nhân công kỹ thuật Trung Quốc không chỉ giúp cải thiện hạ tầng giao thông ở Lào, mà còn gia tăng thương mại hai chiều giữa Lào và Trung Quốc. Ở thủ đô của Campuchia, nhà hàng của Hoa kiều vượt lên trên các nhà hàng của dân bản xứ. Tốc độ phát triển và sự hiện diện của cộng đồng người Hoa không ít thì nhiều, khiến dân địa phương lo ngại. Trong 20 năm qua, không hiếm cảnh người dân bản địa phản ứng lại cộng đồng Hoa Kiều như ở Indonesia năm 1998.
Theo Andrew Forbes, chuyên gia về Trung Quốc ở Chiang Mai (Thái Lan), khác biệt của làn sóng mới từ Trung Quốc với lớp người trước, là mối dây liên kết mật thiết hơn với đại lục. “Lớp người mới yêu nước Trung Hoa và trung thành với tổ quốc hơn” – Forbes nhận xét từ quan sát hơn 20 năm nghiên cứu Trung Quốc. Quan niệm đó được nhà nghiên cứu Trung Quốc học, Nyiri Pal, người Hungary tán đồng.
Tuy chỉ chiếm số lượng nhỏ, nhưng ảnh hưởng lâu dài từ lao động nhập cư Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á rất lớn. Thách thức lớn nhất, với các nước, là kiểm soát lao động nhập cư hợp pháp. Trong 10 năm qua, lợi nhuận từ việc đưa người sang Anh và Mỹ đã tăng gấp đôi, với mức hiện hành là 30.000 USD/người qua Anh và 70.000 USD/người sang Mỹ. Đối sách với làn sóng di dân, theo tiến sĩ John walsh (đại học Shinawatra, Thái Lan), không chỉ ở việc quy định mức lương tối thiểu, đăng ký lao động, mà còn phải tính tới chính sách lâu dài về nguồn nhân lực và bài toán an sinh xã hội. Tuy nhiên, lợi ích của Trung Quốc trong việc việc người Hoa di dân ra nước ngoài mang tính chiến lược. Trên một tạp chí Trung Quốc có trích đăng ý kiến của hội đồng nhà nước về nguồn nhân lực mới di dân, ghi rõ: “Đó là nguồn lực quan trọng trong tương lai, gúp thắt chặt quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây. Tăng cường sức mạnh của khối di dân Trung Quốc mới không chỉ mang lại ích lợi thiết thực cho Trung Quốc mà còn quảng bá hình ảnh quốc gia cũng như gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và phát triển mối quan hệ với các nước có người Trung Quốc sang định cư”.
Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009
Kích cầu nhầm chỗ
Nông dân sẽ mua máy tính để bàn lắp ráp trong nước có giá dưới năm triệu đồng, sẽ được vay tối đa là 5 triệu đồng, thời hạn vay 24 tháng. Lãi suất được hỗ trợ 100%, theo quyết định ban hành ngày 16.4 của chính phủ. Quả là tin mừng khi có chính sách hỗ trợ nông dân, những người đang làm trong lĩnh vực "trụ đỡ" của nền kinh tế, vai trò này càng đặc biệt hơn khi xảy ra kinh tế khủng hoảng. (Vai trò trụ đỡ được khẳng định trong phiên họp thường kỳ tháng năm của chính phủ).
Sẽ không có gì bàn về việc hỗ trợ mua máy tính, nếu nó không thuộc giải pháp kích cầu. Bản chất của kích cầu, theo nguyên lý kinh tế, mang tính ngắn hạn. Tuy nhiên, không nên cố chấp để tranh luận 24 tháng hay bao nhiêu tháng là đủ.
Về bản chất, thúc đẩy tiêu thụ máy tính không giúp gì nhiều cho nền kinh tế. Hơn 10 năm qua, hàm lượng giá trị gia tăng trong công nghiệp máy tính Việt Nam ở mức độ 5%. Nói gọn, đó là nền công nghiệp tuốc-nơ-vít. Cho nên, kích cầu máy tính không mang lại nhiều lợi ích cho nhiều thành phần kinh tế, mà chỉ gói gọn trong số ít công nhân thuộc vài doanh nghiệp lắp ráp máy tính gọi là có tên tuổi ở Việt Nam. Được biết, khá nhiều doanh nghiệp trong nước, thậm chí, còn không nghe tới gói chính sách này. Nếu vậy, hình như đối tượng thủ lợi chính từ chính sách này, ngoài những nông dân đáng kính, còn có các đối tượng khác. Có lẽ, không cần phải nói thêm, ai là người hưởng lợi.
Theo số liệu của điện lực Việt Nam, có khoảng 10 triệu hộ nông dân sử dụng điện. Trên nguyên tắc, chính sách như vậy có thể tạo ra đơn hàng trị giá 5.000 tỉ đồng. Tất nhiên, không thể đạt được con số này, bởi trên thực tế, hỏi nông dân ở xã, cũng không biết tới chính sách như vậy. Về lý thuyết, nông dân hưởng lợi khi có máy tính, ít ra cũng có cái cho con họ học, làm quen với công nghệ thông tin. Nhưng để chiếc máy tính trở thành công cụ nâng cao dân trí, một mình chính sách hỗ trợ lãi suất là chưa đủ. Nếu nông dân mua máy tính, chỉ để cho con họ lên thành phố hay học tập, cũng cần thêm các chính sách lồng ghép khác.
Một vị chức sắc hội tin học TP.HCM cho rằng, không nên quá cực đoan khi đánh giá chính sách này như những gì phân tích ở trên. Dễ hiểu nguyên do phát biểu, các doanh nghiệp thành viên của hội là đối tượng có quyền lợi liên quan. Hơn nữa, nói như vậy cũng là một cách lý giải theo kiểu "lọt sàn, xuống nia". Tiếc rằng, ông này chỉ thấy cái ở trên sàn có vẻ to, chứ cái ở dưới nia còn to hơn nhiều. Hơn nữa, quan điểm này còn phải đặt trong trật tự xếp hàng của nhiều ngành khác. Mà nếu đứng trong trật tự đó, với hàm lượng giá trị gia tăng thấp như vậy, mức độ lan tỏa từ ảnh hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất vào ngành công nghệ thông tin, còn phải đứng sau nhiều ngành khác. Nói gọi, thứ tự ưu tiên cho ngành công nghệ thông tin không thể trong hàng tốp đầu.
Chính sách như trên, tốt, nếu không nằm trong nhóm chính sách mang tính tình thế như hiện nay.
Sẽ không có gì bàn về việc hỗ trợ mua máy tính, nếu nó không thuộc giải pháp kích cầu. Bản chất của kích cầu, theo nguyên lý kinh tế, mang tính ngắn hạn. Tuy nhiên, không nên cố chấp để tranh luận 24 tháng hay bao nhiêu tháng là đủ.
Về bản chất, thúc đẩy tiêu thụ máy tính không giúp gì nhiều cho nền kinh tế. Hơn 10 năm qua, hàm lượng giá trị gia tăng trong công nghiệp máy tính Việt Nam ở mức độ 5%. Nói gọn, đó là nền công nghiệp tuốc-nơ-vít. Cho nên, kích cầu máy tính không mang lại nhiều lợi ích cho nhiều thành phần kinh tế, mà chỉ gói gọn trong số ít công nhân thuộc vài doanh nghiệp lắp ráp máy tính gọi là có tên tuổi ở Việt Nam. Được biết, khá nhiều doanh nghiệp trong nước, thậm chí, còn không nghe tới gói chính sách này. Nếu vậy, hình như đối tượng thủ lợi chính từ chính sách này, ngoài những nông dân đáng kính, còn có các đối tượng khác. Có lẽ, không cần phải nói thêm, ai là người hưởng lợi.
Theo số liệu của điện lực Việt Nam, có khoảng 10 triệu hộ nông dân sử dụng điện. Trên nguyên tắc, chính sách như vậy có thể tạo ra đơn hàng trị giá 5.000 tỉ đồng. Tất nhiên, không thể đạt được con số này, bởi trên thực tế, hỏi nông dân ở xã, cũng không biết tới chính sách như vậy. Về lý thuyết, nông dân hưởng lợi khi có máy tính, ít ra cũng có cái cho con họ học, làm quen với công nghệ thông tin. Nhưng để chiếc máy tính trở thành công cụ nâng cao dân trí, một mình chính sách hỗ trợ lãi suất là chưa đủ. Nếu nông dân mua máy tính, chỉ để cho con họ lên thành phố hay học tập, cũng cần thêm các chính sách lồng ghép khác.
Một vị chức sắc hội tin học TP.HCM cho rằng, không nên quá cực đoan khi đánh giá chính sách này như những gì phân tích ở trên. Dễ hiểu nguyên do phát biểu, các doanh nghiệp thành viên của hội là đối tượng có quyền lợi liên quan. Hơn nữa, nói như vậy cũng là một cách lý giải theo kiểu "lọt sàn, xuống nia". Tiếc rằng, ông này chỉ thấy cái ở trên sàn có vẻ to, chứ cái ở dưới nia còn to hơn nhiều. Hơn nữa, quan điểm này còn phải đặt trong trật tự xếp hàng của nhiều ngành khác. Mà nếu đứng trong trật tự đó, với hàm lượng giá trị gia tăng thấp như vậy, mức độ lan tỏa từ ảnh hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất vào ngành công nghệ thông tin, còn phải đứng sau nhiều ngành khác. Nói gọi, thứ tự ưu tiên cho ngành công nghệ thông tin không thể trong hàng tốp đầu.
Chính sách như trên, tốt, nếu không nằm trong nhóm chính sách mang tính tình thế như hiện nay.
Thứ Tư, 6 tháng 5, 2009
Lao động và cái ngọn của vấn đề
Tình cờ tìm kiếm trên mạng, thấy bài Khiếu nại của OCI: Phớt lờ gốc sai phạm đăng trên Lao Động, trong đó tác giả lập luận rằng kết luận sai phạm của thanh tra sở tuy khái quát nhưng đã đủ ý. Và vì sự "nhẹ nhàng" có chủ ý của sở mà OCI có cớ khiếu nại. Tác giả bài viết này còn lập luận rằng OCI đã phớt lờ cái gốc của sai phạm là doanh nghiệp này có cung cấp dịch vụ mà không được cho phép, và dùng "cái ngọn" là cuộc gọi khởi phát từ ngoài Việt Nam (nên không chịu chế tài của luật Việt Nam) để che cái gốc của sai phạm: cung cấp dịch vụ.
Có lẽ, vì quá tin vào lời giải thích của cơ quan quản lý, mà tác giả không định nghĩa được rằng: thế nào là một dịch vụ hoàn chỉnh. OCI Việt Nam chỉ được gọi là nhà cung cấp dịch vụ chiều gọi về Việt Nam khi có hệ thống thiết bị (thuê hoặc tự đầu tư), có kết nối hợp pháp với hệ thống tổng đài (PSTN). Trên thực tế, thanh tra sở đã kết luận là OCI Việt Nam không có đấu nối trực tiếp. Chính vì vậy, mà phó chánh thanh tra bộ thông tin và truyền thông mới mạnh miệng khẳng định chưa đủ bằng cớ.
Trở lại cái ngọn của vấn đề như tác giả bài viết đặt ra, liên minh viễn thông quốc tế mà Việt Nam là một thành viên, quy định rằng: cuộc gọi khởi phát từ đâu thì chịu sự chế tài của luật định nước đó. Do vậy, cuộc gọi từ 24 nước mà thẻ của OCI Việt Nam cung cấp dịch vụ, không chịu sự chi phối của luật Việt Nam. Đó mới thực sự là cái gốc của vấn đề. Khi hội nhập, không thể lấy luật của cái giếng để áp dụng cho cả bầu trời.
Dựa trên thông tin và kết luận của thanh tra sở, tôi không nghĩ rằng, OCI Việt Nam vi phạm luật. Bởi thật sự đúng như vậy, thì OCI Việt Nam sẽ bị xử lý hình sự theo tội danh "trộm cước viễn thông", chứ không bị xử phạt hết khung 20 triệu đồng.
Đọc lại các diễn tiến thông tin về vụ OCI trên Lao Động, tôi lấy làm lạ khi vụ việc có liên quan đến yếu tố pháp luật khá phức tạp, không có bất kỳ ý kiến luật sư nào. Tôi không nghĩ rằng, vụ việc này chỉ tiếp xúc với doanh nghiệp, chuyên gia viễn thông và cơ quan quản lý là đủ. Tôi hâm mộ Lao động từ lâu, thời kỳ ông Tống Văn Công và hàng loạt nhà báo danh tiếng tham gia. Tôi biết khi Chánh Trinh và Trần Trọng Thức mang ra Hà Nội để trao đổi nghiệp vụ là cuốn Ký giả chuyên nghiệp. Tiếc rằng, những bài học sơ đẳng nhất trong đó đã không được thể hiện qua bài báo này.
Tôi có gặp luật sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông cho rằng, có thể mô hình hóa dịch vụ điện thoại trên nền internet qua máy tính như một bộ máy tính (CPU, phần mềm) và thiết bị ngoại vi. Hội đủ các điều kiện này thì mới có thể kết luận là dịch vụ đầy đủ. Sự việc OCI Việt Nam, trong con mắt luật sư Bích, như chuyện kết luận con chuột-bàn phím vi phạm luật bản quyền. Trong khi phần mềm nằm trong CPU ở nước ngoài, mới là cái gốc của sự vi phạm.
Cái gốc của vấn đề, theo luật sư Bích, là doanh nghiệp được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Còn nhà nước chỉ được làm đúng những gì mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, cuộc sống thay đổi nên pháp luật có lúc không bắt kịp được yêu cầu của cuộc sống. Thông lệ quốc tế, trong trường hợp như vậy, viện dẫn pháp luật trên tinh thần có lợi cho người tiêu dùng, theo ông Bích.
Tiếc rằng, đó là thông lệ của quốc tế, không đúng với trường hợp này.
Có lẽ, vì quá tin vào lời giải thích của cơ quan quản lý, mà tác giả không định nghĩa được rằng: thế nào là một dịch vụ hoàn chỉnh. OCI Việt Nam chỉ được gọi là nhà cung cấp dịch vụ chiều gọi về Việt Nam khi có hệ thống thiết bị (thuê hoặc tự đầu tư), có kết nối hợp pháp với hệ thống tổng đài (PSTN). Trên thực tế, thanh tra sở đã kết luận là OCI Việt Nam không có đấu nối trực tiếp. Chính vì vậy, mà phó chánh thanh tra bộ thông tin và truyền thông mới mạnh miệng khẳng định chưa đủ bằng cớ.
Trở lại cái ngọn của vấn đề như tác giả bài viết đặt ra, liên minh viễn thông quốc tế mà Việt Nam là một thành viên, quy định rằng: cuộc gọi khởi phát từ đâu thì chịu sự chế tài của luật định nước đó. Do vậy, cuộc gọi từ 24 nước mà thẻ của OCI Việt Nam cung cấp dịch vụ, không chịu sự chi phối của luật Việt Nam. Đó mới thực sự là cái gốc của vấn đề. Khi hội nhập, không thể lấy luật của cái giếng để áp dụng cho cả bầu trời.
Dựa trên thông tin và kết luận của thanh tra sở, tôi không nghĩ rằng, OCI Việt Nam vi phạm luật. Bởi thật sự đúng như vậy, thì OCI Việt Nam sẽ bị xử lý hình sự theo tội danh "trộm cước viễn thông", chứ không bị xử phạt hết khung 20 triệu đồng.
Đọc lại các diễn tiến thông tin về vụ OCI trên Lao Động, tôi lấy làm lạ khi vụ việc có liên quan đến yếu tố pháp luật khá phức tạp, không có bất kỳ ý kiến luật sư nào. Tôi không nghĩ rằng, vụ việc này chỉ tiếp xúc với doanh nghiệp, chuyên gia viễn thông và cơ quan quản lý là đủ. Tôi hâm mộ Lao động từ lâu, thời kỳ ông Tống Văn Công và hàng loạt nhà báo danh tiếng tham gia. Tôi biết khi Chánh Trinh và Trần Trọng Thức mang ra Hà Nội để trao đổi nghiệp vụ là cuốn Ký giả chuyên nghiệp. Tiếc rằng, những bài học sơ đẳng nhất trong đó đã không được thể hiện qua bài báo này.
Tôi có gặp luật sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông cho rằng, có thể mô hình hóa dịch vụ điện thoại trên nền internet qua máy tính như một bộ máy tính (CPU, phần mềm) và thiết bị ngoại vi. Hội đủ các điều kiện này thì mới có thể kết luận là dịch vụ đầy đủ. Sự việc OCI Việt Nam, trong con mắt luật sư Bích, như chuyện kết luận con chuột-bàn phím vi phạm luật bản quyền. Trong khi phần mềm nằm trong CPU ở nước ngoài, mới là cái gốc của sự vi phạm.
Cái gốc của vấn đề, theo luật sư Bích, là doanh nghiệp được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Còn nhà nước chỉ được làm đúng những gì mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, cuộc sống thay đổi nên pháp luật có lúc không bắt kịp được yêu cầu của cuộc sống. Thông lệ quốc tế, trong trường hợp như vậy, viện dẫn pháp luật trên tinh thần có lợi cho người tiêu dùng, theo ông Bích.
Tiếc rằng, đó là thông lệ của quốc tế, không đúng với trường hợp này.
Thứ Hai, 4 tháng 5, 2009
Diễn tiến vụ OCI: Sở mời thanh tra bộ làm việc


Sở thông tin và truyền thông vừa có văn bản "mời thanh tra" bộ chủ quản vào TP.HCM làm việc, sau khi ông phó chánh thanh tra có phát biểu rằng "chưa có căn cứ để kết luận OCI" vi phạm (diễn biến vụ OCI xem ở đây).
Chi phí ăn, ở, đi lại của ông thanh tra, do sở chịu. Không rõ thủ tục thanh toán dạng "mời" này có được sở Tài chính đồng ý thanh toán hay không? Trước nay, muốn xin ý kiến, chỉ có cấp dưới lên cấp trên.
Update 1: Ông phó chánh tranh bộ đã có công văn phúc đáp rằng ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về phát biểu trên. Đồng thời, ông cho biết mình không có nghĩa vụ phải làm việc với sở.
Update 2: Ngày 12.5, sở thông tin - truyền thông đã gia hạn thời gian trả lời khiếu nại của OCI. Theo sở này, thời gian trong luật khiếu nại được hiểu là "thời gian làm việc", nghĩa là phải trừ các ngày nghỉ. Tôi không rõ, sở này có "ngay thẳng" tính hai buổi sáng thứ bảy thành một ngày làm việc hay không, bởi theo quy định, các sở, ban ngành ở TP.HCM phải làm việc sáng thứ bảy.Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2009
Nghi án OCI: trắng đen sắp rõ!

Bộ Thông tin truyền thông vừa có văn bản trả lời sở Thông tin truyền thông TP.HCM rằng, muốn kết luận OCI cung cấp dịch vụ phone2phone chiều từ nước ngoài về Việt Nam "trái phép", thì phải chứng minh có đơn vị này có kết nối vào mạng PSTN của Việt Nam.
Điều này, thì trong biên bản của thanh tra sở hồi giữa tháng 3 đã xác định rõ là "không phát hiện" được kết nối như vậy.
Theo luật khiếu nại tố cáo, đến ngày 27.4 này là hạn cuối để sở thông tin truyền thông trả lời khiếu nại của OCI. (Diễn biến của vụ OCI xem ở đây)
Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2009
Skype, OCI và lệnh cấm
1. Cuối tuần trước, sở Thông tin truyền thôngg đã thực thi án phạt với OCI bằng việc tịch thu tang vật. Không hiểu vì lý do gì, mà thanh tra sở không muốn thực hiện điều này trước sự chứng kiến của báo giới. Địa điểm thực thi là văn phòng của OCI, nơi mà thanh tra sở là khách, chứ không phải là chủ! Ý này được chính một nhân viên thanh tra sở buộc miệng nói ra, khi thấy cấp trên của mình khư khư đòi mời báo giới ra ngoài.
Tang vật tịch thu là máy chủ. Theo lời một nhân viên kỹ thuật của OCI, đã có tranh cãi giữa đôi bên về "tang vật". Theo nội dung xử phạt hành chính do sở bưu chính viễn thông đưa ra, OCI bị phạt 20 triệu đồng và tịch thu tang vật do cung cấp dịch vụ không được phép là dịch vụ điện thoại VoIP từ thiết bị điện thoại tới điện thoại chiều về Việt Nam. Nội dung vi phạm là như vậy, nhưng khi kỹ thuật viên của OCI đòi xóa dữ liệu trong máy chủ, thì thanh tra sở từ chối, vì lý do "nếu xóa đi lấy đâu mà có thể tìm ra hành vi vi phạm". Nghĩa là, theo quyết định xử phạt, OCI có vi phạm, còn thực tế, thanh tra cần "kiểm tra" để tìm bằng chứng vi phạm. Thực ra, nếu có đủ bằng chứng kết luận OCI vi phạm, thì thanh tra sở đâu cần xử phạt, vì theo luật định, hành vi trên phải bị truy tố hình sự.
Có thể nói thêm là, may mà OCI bố trí dữ liệu nằm chung trong ổ cứng máy chủ để sở có thể tịch thu, chứ lưu dữ liệu ở nơi khác, thì sở sẽ nhận được xác, không hồn. Giải pháp bố trí như vậy hoàn toàn có cơ sở, đặc biệt trong trường hợp bảo mật cao. Khi cần, máy chủ chỉ gửi yêu cầu truy xuất và dữ liệu đáp ứng yêu cầu được gửi, hiển thị theo đúng yêu cầu. Người đọc chỉ nhận được thông tin, chứ không trực tiếp truy xuất được vào nguồn dữ liệu.
2. Sau khi Skype cho phép người dùng sử dụng dịch vụ này trên các smartphone (hay PDA), lập tức các hãng cung cấp dịch vụ ra lệnh cấm sử dụng. Nếu phát hiện, họ sẽ từ chối cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng. Được biết, dịch vụ skype đã được nâng chất lượng lên rất nhiều.
Việc các hãng viễn thông ra lệnh cấm vì nó ảnh hưởng tới doanh thu của họ. Tuy nhiên, nếu người dùng sử dụng PDA như một thiết bị để truy cập internet, còn lại, họ chỉ việc sử dụng skype cài trên máy xách tay hay máy để bàn thì các hãng viễn thông không thể cấm được. Nói như vậy, để thấy rằng, công nghệ phát triển quá nhanh và một thiết bị có nhiều chức năng, nên phân định rạch ròi thế nào để cấm và xử phạt là điều không dễ.
3. Bất kỳ người quen nào khi biết vụ OCI đều hỏi rằng: sao Việt Nam lại cấm khi thiệt hại nằm về nước khởi sinh cuộc gọi. Câu trả lời mà các quan chức viễn thông sẽ nói liền là: lý do an ninh.
Câu trả lời mà các luật sư viện dẫn là hành xử luật theo lệ. Ông Mai Liêm Trực, lúc còn là thứ trưởng bộ Bưu chính viễn thông, từng tuyên bố về sự thay đổi trong quản lý internet: "Phát triển đến đâu, quản lý đến đó. Thay vì tinh thần quản lý đến đâu, mở tới đó". Nhưng giữa phát biểu và hành động thực tế của cấp quản lý có khoảng cách. Đánh giá nó lớn hay nhỏ, thì tùy vào quan điểm của mỗi người sau khi đọc xong entry này.
Update 1: Hội điện tử TP.HCM vừa có văn bản gửi sở TTTT về chuyện OCI. Theo đó, hội không tìm thấy những căn cứ pháp luật xác đáng và thuyết phục. Thứ nhất, sở căn cứ vào thông tư 05 là đúng, nhưng thông tin trên không thể chi phối dịch vụ khi cuộc gọi được thực hiện từ Mỹ hay 22 nước khác. Thứ hai, căn cứ vi phạm như đăng quảng cáo, thông tin dịch vụ nhưng không dẫn ra được bất kỳ văn bản pháp qui nào nói rằng những việc làm như trên là sở cứ để xác định một công ty cung cấp dịch vụ phone-to-phone.
Cuối công văn, hội "lấy làm tiếc rằng: vụ OCI hiện nay đã vượt quá xa với bản chất vốn có của nó. Chúng tôi cũng hoàn toàn có thể tiên lượng được những hậu quả xấu đã và sẽ xảy ra mà mức độ ảnh hưởng của nó đang phụ thuộc vào những cơ quan và cá nhân có trách nhiệm. Dẫu biết rằng “tồn tại xã hội luôn kiềm hãm những nhân tố mới thúc đẩy sự phát triển của xã hội”; nhưng vẫn muốn kêu gọi những lương tâm lạc loài còn ngự trị trong tồn tại của xã hội hãy thức tỉnh và nhường chỗ cho nhân tố mới xuất hiện thúc đẩy phát triển xã hội Việt Nam chúng ta tiến lên sánh vai cùng bè bạn khắp Năm châu – Bốn biển".
Update 2: nội dung công văn của hội điện tử
Tang vật tịch thu là máy chủ. Theo lời một nhân viên kỹ thuật của OCI, đã có tranh cãi giữa đôi bên về "tang vật". Theo nội dung xử phạt hành chính do sở bưu chính viễn thông đưa ra, OCI bị phạt 20 triệu đồng và tịch thu tang vật do cung cấp dịch vụ không được phép là dịch vụ điện thoại VoIP từ thiết bị điện thoại tới điện thoại chiều về Việt Nam. Nội dung vi phạm là như vậy, nhưng khi kỹ thuật viên của OCI đòi xóa dữ liệu trong máy chủ, thì thanh tra sở từ chối, vì lý do "nếu xóa đi lấy đâu mà có thể tìm ra hành vi vi phạm". Nghĩa là, theo quyết định xử phạt, OCI có vi phạm, còn thực tế, thanh tra cần "kiểm tra" để tìm bằng chứng vi phạm. Thực ra, nếu có đủ bằng chứng kết luận OCI vi phạm, thì thanh tra sở đâu cần xử phạt, vì theo luật định, hành vi trên phải bị truy tố hình sự.
Có thể nói thêm là, may mà OCI bố trí dữ liệu nằm chung trong ổ cứng máy chủ để sở có thể tịch thu, chứ lưu dữ liệu ở nơi khác, thì sở sẽ nhận được xác, không hồn. Giải pháp bố trí như vậy hoàn toàn có cơ sở, đặc biệt trong trường hợp bảo mật cao. Khi cần, máy chủ chỉ gửi yêu cầu truy xuất và dữ liệu đáp ứng yêu cầu được gửi, hiển thị theo đúng yêu cầu. Người đọc chỉ nhận được thông tin, chứ không trực tiếp truy xuất được vào nguồn dữ liệu.
2. Sau khi Skype cho phép người dùng sử dụng dịch vụ này trên các smartphone (hay PDA), lập tức các hãng cung cấp dịch vụ ra lệnh cấm sử dụng. Nếu phát hiện, họ sẽ từ chối cung cấp dịch vụ viễn thông cho khách hàng. Được biết, dịch vụ skype đã được nâng chất lượng lên rất nhiều.
Việc các hãng viễn thông ra lệnh cấm vì nó ảnh hưởng tới doanh thu của họ. Tuy nhiên, nếu người dùng sử dụng PDA như một thiết bị để truy cập internet, còn lại, họ chỉ việc sử dụng skype cài trên máy xách tay hay máy để bàn thì các hãng viễn thông không thể cấm được. Nói như vậy, để thấy rằng, công nghệ phát triển quá nhanh và một thiết bị có nhiều chức năng, nên phân định rạch ròi thế nào để cấm và xử phạt là điều không dễ.
3. Bất kỳ người quen nào khi biết vụ OCI đều hỏi rằng: sao Việt Nam lại cấm khi thiệt hại nằm về nước khởi sinh cuộc gọi. Câu trả lời mà các quan chức viễn thông sẽ nói liền là: lý do an ninh.
Câu trả lời mà các luật sư viện dẫn là hành xử luật theo lệ. Ông Mai Liêm Trực, lúc còn là thứ trưởng bộ Bưu chính viễn thông, từng tuyên bố về sự thay đổi trong quản lý internet: "Phát triển đến đâu, quản lý đến đó. Thay vì tinh thần quản lý đến đâu, mở tới đó". Nhưng giữa phát biểu và hành động thực tế của cấp quản lý có khoảng cách. Đánh giá nó lớn hay nhỏ, thì tùy vào quan điểm của mỗi người sau khi đọc xong entry này.
Update 1: Hội điện tử TP.HCM vừa có văn bản gửi sở TTTT về chuyện OCI. Theo đó, hội không tìm thấy những căn cứ pháp luật xác đáng và thuyết phục. Thứ nhất, sở căn cứ vào thông tư 05 là đúng, nhưng thông tin trên không thể chi phối dịch vụ khi cuộc gọi được thực hiện từ Mỹ hay 22 nước khác. Thứ hai, căn cứ vi phạm như đăng quảng cáo, thông tin dịch vụ nhưng không dẫn ra được bất kỳ văn bản pháp qui nào nói rằng những việc làm như trên là sở cứ để xác định một công ty cung cấp dịch vụ phone-to-phone.
Cuối công văn, hội "lấy làm tiếc rằng: vụ OCI hiện nay đã vượt quá xa với bản chất vốn có của nó. Chúng tôi cũng hoàn toàn có thể tiên lượng được những hậu quả xấu đã và sẽ xảy ra mà mức độ ảnh hưởng của nó đang phụ thuộc vào những cơ quan và cá nhân có trách nhiệm. Dẫu biết rằng “tồn tại xã hội luôn kiềm hãm những nhân tố mới thúc đẩy sự phát triển của xã hội”; nhưng vẫn muốn kêu gọi những lương tâm lạc loài còn ngự trị trong tồn tại của xã hội hãy thức tỉnh và nhường chỗ cho nhân tố mới xuất hiện thúc đẩy phát triển xã hội Việt Nam chúng ta tiến lên sánh vai cùng bè bạn khắp Năm châu – Bốn biển".
Update 2: nội dung công văn của hội điện tử
Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2009
Hội thảo bauxite Tây Nguyên: Kiềng hai chân
Hội thảo bàn luận về khai thác bauxite tại Tây Nguyên, mái nhà của Đông Dương, diễn ra ngày 9.4. Các tranh luận xoay quanh hai vấn đề chính: hiệu quả kinh tế và môi trường. Luận điểm của các bên về hai vấn đề này, với công luận, không có gì mới. Trong thời gian qua, có khá nhiều ý kiến và tương đối đầy đủ về các vấn đề này (Lược thuật có thể xem ở đây).
Điều mà công luận chờ đợi là vấn đề thứ ba: an ninh quốc phòng sẽ được đánh giá thế nào, thì không có nhiều ý kiến. Duy chỉ có ý kiến của một người làm trong ngành công an nhưng ở bộ phận nghiên cứu có đề cập đến an ninh quốc phòng. Dù trong ngày diễn ra hội thảo, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư, gạch đủ ba đầu dòng về các vấn đề trên.
Một người tham dự hội thảo cho biết, trong các thành phần tham dự vắng bóng phía quân đội. Theo một nguồn tin, một người thuộc khối quốc phòng có dự hội thảo là giám đốc dự án ở Nhân Cơ, thuộc bộ phận kinh tế quốc phòng.
Với các thành phần như vậy và nội dung như được tường thuật, kết quả sau hội thảo là điều có thể dự đoán trước.
* Những ai có học qua về lobby đều có thể thấy khâu thiếu sót của tiến trình bàn luận (không giới hạn ở hội thảo này). Nguyên tắc đầu tiên là trong thành phần tham dự, phải có đủ mặt các bên liên quan (stakeholder). Đại diện của người dân địa phương vùng Nhân Cơ có thể là các vị thuộc hội đồng nhân dân, nhưng vẫn thiếu người dân ở vùng hạ lưu, những nơi sẽ bị ảnh hưởng khi hệ sinh thái vùng cao có thay đổi.
Trước ngày diễn ra hội nghị, VTV có phát 1 tin ngắn, hầu như dẫn lời của phía TKV. Phía người dân nói về đất đai, thổ nhưỡng không mang tính đại diện vì họ chỉ là người canh tác, nói về thực tế, chứ không đủ trình độ nói về đất đai - thổ nhưỡng. Dĩ nhiên, ý kiến người dân khu vực hạ lưu không thấy. Cũng như không có ý kiến nhà khoa học về ảnh hưởng của vùng hạ lưu.
Một chi tiết đáng lưu ý trong tin này là đánh giá kết quả xử lý ô nhiễm chỉ có khi nhà máy đi vào hoạt động. Có thể phát ý kiến như vậy trong đoạn tin trên là điều đáng phải ngẫm nghĩ.
Điều mà công luận chờ đợi là vấn đề thứ ba: an ninh quốc phòng sẽ được đánh giá thế nào, thì không có nhiều ý kiến. Duy chỉ có ý kiến của một người làm trong ngành công an nhưng ở bộ phận nghiên cứu có đề cập đến an ninh quốc phòng. Dù trong ngày diễn ra hội thảo, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư, gạch đủ ba đầu dòng về các vấn đề trên.
Một người tham dự hội thảo cho biết, trong các thành phần tham dự vắng bóng phía quân đội. Theo một nguồn tin, một người thuộc khối quốc phòng có dự hội thảo là giám đốc dự án ở Nhân Cơ, thuộc bộ phận kinh tế quốc phòng.
Với các thành phần như vậy và nội dung như được tường thuật, kết quả sau hội thảo là điều có thể dự đoán trước.
* Những ai có học qua về lobby đều có thể thấy khâu thiếu sót của tiến trình bàn luận (không giới hạn ở hội thảo này). Nguyên tắc đầu tiên là trong thành phần tham dự, phải có đủ mặt các bên liên quan (stakeholder). Đại diện của người dân địa phương vùng Nhân Cơ có thể là các vị thuộc hội đồng nhân dân, nhưng vẫn thiếu người dân ở vùng hạ lưu, những nơi sẽ bị ảnh hưởng khi hệ sinh thái vùng cao có thay đổi.
Trước ngày diễn ra hội nghị, VTV có phát 1 tin ngắn, hầu như dẫn lời của phía TKV. Phía người dân nói về đất đai, thổ nhưỡng không mang tính đại diện vì họ chỉ là người canh tác, nói về thực tế, chứ không đủ trình độ nói về đất đai - thổ nhưỡng. Dĩ nhiên, ý kiến người dân khu vực hạ lưu không thấy. Cũng như không có ý kiến nhà khoa học về ảnh hưởng của vùng hạ lưu.
Một chi tiết đáng lưu ý trong tin này là đánh giá kết quả xử lý ô nhiễm chỉ có khi nhà máy đi vào hoạt động. Có thể phát ý kiến như vậy trong đoạn tin trên là điều đáng phải ngẫm nghĩ.
Thứ Ba, 7 tháng 4, 2009
Ai hốt đầy chén nước đã đổ đi?
Các cơ quan chức năng đã hoàn chỉnh hai phương án giãn tiếp thuế thu nhập cá nhân. Phương án đầu, thực ra, là hợp thức hóa thông tư 27 giãn thuế ban hành hồi đầu năm nay. Phương án sau là giãn thuế sáu tháng, kể từ 1.1.2009. Còn một phương án khác là lùi thời hạn áp dụng luật thuế thu nhập cá nhân đến năm 2010.
Mục đích miễn giảm thuế thu nhập cá nhân là một công cụ chính sách để kích cầu. Tuy nhiên, chỉ có quốc hội mới có quyền giảm thuế, nên thông tư 27 chỉ là giải pháp tình thế, đợi kỳ họp QH thông qua. Đáng chú ý là nếu QH không thông qua, thì tổng cục Thuế thuộc bộ Tài chính cũng khó truy thu đủ số thuế trên.
Gần như các đại biểu QH không có lựa chọn nào khác ngoài việc chọn một trong ba phương án. Trong đó, chọn phương án 1 và 2 chỉ mang tính kỹ thuật. Còn phương án 3 xem ra khó thuyết phục bởi chính các đại biểu cũng là người bỏ phiếu thông qua.
Nếu bác bỏ, thì các đại biểu cũng hiểu rõ, câu chuyện họ Chu đổ chén nước, rồi hỏi vợ rằng: có hốt đầy được không?
Mục đích miễn giảm thuế thu nhập cá nhân là một công cụ chính sách để kích cầu. Tuy nhiên, chỉ có quốc hội mới có quyền giảm thuế, nên thông tư 27 chỉ là giải pháp tình thế, đợi kỳ họp QH thông qua. Đáng chú ý là nếu QH không thông qua, thì tổng cục Thuế thuộc bộ Tài chính cũng khó truy thu đủ số thuế trên.
Gần như các đại biểu QH không có lựa chọn nào khác ngoài việc chọn một trong ba phương án. Trong đó, chọn phương án 1 và 2 chỉ mang tính kỹ thuật. Còn phương án 3 xem ra khó thuyết phục bởi chính các đại biểu cũng là người bỏ phiếu thông qua.
Nếu bác bỏ, thì các đại biểu cũng hiểu rõ, câu chuyện họ Chu đổ chén nước, rồi hỏi vợ rằng: có hốt đầy được không?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)