Vẻn vẹn trong 280 trang sách, George Soros, một trong những nhà đầu tư thành công của thế kỷ 20, đưa ra lý giải về căn nguyên của khủng hoảng tín dụng. Đọc Mô thức mới cho thị trường tài chính của Soros, người đọc có thể hiểu cách Soros phân tích thị trường và hưởng lợi từ nhận định của ông. Ước tính, chỉ riêng năm 1992, quỹ đầu tư của Soros bỏ túi khoảng 1,1 tỉ bảng Anh, theo Fiancial Times, từ nhận định có biến động về vị thế đồng bảng trên thị trường tiền tệ. Cuốn sách cũng mang lại cho người đọc sự hoài nghi khoa học: thị trường tự do có khả năng tự điều chỉnh như ban đầu Adam Smith đã đưa ra và sau này được Milton Friedman cũng như Lucas phát triển thành học thuyết “tân cổ điển” hay không?
Nếu như Hiểu kinh tế qua một bài học của Henry Hazlitt đưa ra rất nhiều ví dụ khác nhau nhưng đều phục vụ chung một luận điểm cơ bản: vấn đề của kinh tế học là sự lựa chọn dựa trên đánh đổi giữa chi phí và cơ hội, thì cuốn sách của triết gia bất thành, như tự nhận của Soros, cũng truyền tải một thông điệp: thuyết phản hồi và định đề tính có thể sai triệt để.
Thị trường không hoàn hảo
Thuyết cạnh tranh hoàn hảo chỉ có khi có thông tin thị trường hoàn hảo. Từ giả định này, Soros cho rằng trạng thái lý tưởng đó chỉ có trong sách giáo khoa. Soros cũng cho rằng, con người không thể có thông tin hoàn hảo khi bản thân họ vừa là người thu nhận thông tin vừa là người ra quyết định. Chính vị thế không thể tách rời giữa quá trình thu nhận và ra quyết định cũng như tác động tương hỗ của hai quá trình này khiến cho con người có các nhận định sai.
Xa hơn nữa, Soros phát triển triết thuyết của Karl Popper để chứng minh các định luật khoa học luôn phải đặt trong sự hoài nghi “có thể sai”. Popper đưa ra ba quy trình cơ bản là dự đoán, lý giải, kiểm nghiệm. Popper cho rằng, chỉ cần kiểm nghiệm được sự không phù hợp giữa điều kiện đầu và cuối thì định luật đó không thể kết luận là khoa học. Từ sự hoài nghi này mà ngay từ cuối thập niên 1940, lúc còn là sinh viên trường kinh tế London, Soros đã nghi ngờ lý thuyết thị trường hoàn hảo.
Kinh nghiệm thực tế từ thị trường tài chính, một thị trường chịu ảnh hưởng của các định luật khoa học cùng với giả định về quyết định của nhà đầu tư và của các nhà điều hành không thể hoàn hảo, Soros đưa ra giả định riêng: thị trường tài chính không thể tự điều chỉnh để trở lại trạng thái cân bằng. Trong khi thuyết kỳ vọng duy lý cho rằng, giá cả thị trường phản ánh đầy đủ các yếu tố cơ bản của thị trường nên các thành viên thị trường dù theo đuổi lợi ích riêng cũng quyết định dựa trên giả định rằng các thành viên cũng làm đúng như vậy. Thật ra, hành động của các thành viên trong thị trường không phải dựa trên lợi ích mà dựa trên nhận thức về lợi ích. Sự tách biệt này dẫn tới thị trường có tính bất định. Không những vậy, Soros còn chứng minh giá cả không chỉ phản ánh các yếu tố cơ bản của thị trường mà nó còn gây ảnh hưởng tới các yếu tố đó. Điều này dẫn tới quá trình tự lớn mạnh ban đầu nhưng rồi sẽ tự tan vỡ. Dựa trên mô hình chuỗi bùng phát và tan vỡ của G.Soros gồm tám giai đoạn, Soros lần lượt lắp ghép dữ kiện thực tế từ bùng nổ tập đoàn vào những năm 1960, rồi các công ty tín thác đầu tư bất động sản và cuộc khủng hoảng ngân hàng quốc tế những năm 1980, nhằm kiểm nghiệm mô thức của ông. Kết quả là Soros đã thu được tài sản, theo Forbes, khoảng 9 tỉ USD.
Khoảng tiền tỉ không chỉ giúp Soros trở nên giàu có mà còn giúp ông đủ tự tin để phát triển thuyết của mình trước các lời chỉ trích của giới học giả. Điều này cũng dễ hiểu khi Soros đụng tới ba tượng đài kinh tế của trường phái Chicago là Milton Friedman, Eugene Fama và Robert Lucas. R.Lucas nhận Nobel Kinh tế năm 1995, M. Friedman nhận giải này năm 1976. Nổi danh bởi các công trình về lý thuyết tiền tệ và cổ xuý cho thị trường tự do, những công trình ban đầu của M. Friedman đóng góp nhiều vào sự phát triển của học thuyết thị trường hoàn hảo. Sau này, học trò ông là E.Fama ứng dụng vào thị trường chứng khoán để hình thành trường phái đầu tư chỉ số. Hiểu đơn giản, nếu bạn mua đầy đủ các chứng khoán đại diện cho thị trường, thí dụ như VN–Index, sau một quãng thời gian đủ dài, bạn sẽ thu lợi mà không phải quan tâm nhiều tới diễn biến cụ thể thị trường. Cốt lõi của đầu tư chỉ số là thừa nhận rất khó thắng được thị trường khi các thành viên đều có quyết định hợp lý, nên cách tốt là mua chỉ số để theo thị trường. Lucas đưa ra thuyết kỳ vọng duy lý, với trọng tâm là phê phán chính sách kinh tế chủ động sẽ không hiệu quả. Do vậy, trong một chu kỳ kinh tế nếu có xảy ra tình trạng đi lệch vị trí cân bằng, thị trường sẽ tự động điều chỉnh vào thời gian kế tiếp. Dĩ nhiên Soros không tin vào điều đó và ông đã đúng trong gần 40 năm qua.
Ba nhân tố gây khủng hoảng tín dụng hiện nay
Hành động của các thành viên trong thị trường không phải dựa trên lợi ích mà dựa trên nhận thức về lợi ích. Sự tách biệt này dẫn tới thị trường có tính bất định
Cũng từ mô thức trên, G. Soros cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính là sự đặt chồng của hai bong bóng: địa ốc ở Mỹ và siêu bong bóng dài hạn.
Biện giải của Soros về địa ốc không phải là mới. Bong bóng này xuất phát từ chính sách lãi suất thấp từ sau bong bóng công nghệ 1990. Xu hướng chủ đạo tạo nên bong bóng này là sự nới lỏng tiêu chuẩn cho vay. Xu hướng này được tiếp sức bằng ngộ nhận là giá trị của tài sản cầm cố không bị ảnh hưởng bởi khả năng vay dễ dàng. Khi lãi suất tăng, bong bóng này không vỡ ngay do nhu cầu đầu cơ và sự cởi mở điều kiện cho vay, cho tới khi sụp đổ.
Hình thành từ thập niên 1970, siêu bong bóng dài hạn được thúc đẩy và nuôi dưỡng bởi ba nhân tố: toàn cầu hoá, tự do hoá và nới lỏng kiểm soát thị trường tài chính.
Toàn cầu hoá trong con mắt của Soros, khiến cho nước Mỹ trở thành con nợ của cả thế giới. “Trong khi Mỹ hạnh phúc khi tiêu thụ nhiều hơn sản xuất, thì Trung Quốc và các nước xuất khẩu châu Á khác vui vẻ khi sản xuất nhiều hơn tiêu thụ” – Soros viết. Kết cục là Mỹ nợ đầm đìa, phải bù đắp bằng trái phiếu chính phủ. “Đây là sự ngược đời khi vốn chảy từ các nước kém phát triển vào Mỹ” – Soros phân tích. Toàn cầu hoá còn giúp Mỹ phân phát nợ dưới dạng chứng khoán hoá sang các nước. Hệ quả là không chỉ có Mỹ chịu rủi ro từ bong bóng địa ốc mà các nước châu Âu, nhất là Đức cũng gánh chịu rủi ro.
Việc xuất hiện các sản phẩm tài chính mới dựa trên công cụ tài chính tổng hợp, tính toán rủi ro và giao dịch chứng khoán, theo phân tích của Soros, được bảo chứng dựa trên lý thuyết các thị trường có xu hướng trở lại vị trí cân bằng. Điều tệ hại, như bình luận của Soros, “những phương pháp và công cụ mới được sáng chế quá tinh vi đến mức giới điều tiết cũng mất luôn khả năng tính toán những rủi ro đi kèm”. Xác định rủi ro dựa trên giả định hệ thống là ổn định, các nhà quản lý buông lơi cho hệ thống tín dụng phình to.
Dự báo tương lai, Soros chỉ phác hoạ hình ảnh một cường quốc như Mỹ phải đối mặt với cuộc suy thoái và tình trạng từ bỏ đồng USD. Trật tự thế giới mới, trong hình dung của Soros sẽ hình thành. Nhưng trước hết, con người cần phải có sự hiểu biết tốt hơn về hoàn cảnh hiện tại của chính mình. Nền tảng xây dựng sự hiểu biết không gì bằng hoài nghi khoa học, điều mà Soros và nhiều học giả lớn trong lịch sử nhân loại đều mong mỏi.
Quốc Khánh
(SGTT ngày 11.11.2008)
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét