Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2009
Nghiên cứu theo đơn đặt hàng II
Trùng hợp ngẫu nhiên với nội dung chiến dịch trên, là bài báo xuất hiện trên TT. Từ nội dung bài viết, có thể thấy làn sóng các thương hiệu nhỏ xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam sẽ biến đất nước hình chữ S này thành bãi rác công nghiệp trong tương lai. Nếu theo luận điểm này, chỉ có các anh lớn như Nokia mới nghĩ tới môi trường.
Một thông điệp khác là rủi ro cho người dùng khi mua máy từ các nhãn hiệu nhập khẩu từ Trung Quốc.
Vài suy ngẫm:
Suy ngẫm 1: Nokia sẽ có trách nhiệm gì với đống rác mà họ mang vào Việt Nam trong suốt mười mấy năm qua? Nên nhớ rằng, hãng đang chiếm thị phần lớn nhất ở VN, nên không thể chối bỏ trách nhiệm này. Hay ở đây, sẽ áp dụng nguyên tắc "bất hồi tố".
Suy ngẫm 2: Cứ suy nghĩ lối nông dân ăn chắc mặc bền, một đời ta, ba đời nó. Nếu 1 máy có thương hiệu lớn giá gấp đôi, gấp ba, thì mua máy rẻ, có khi còn được xài tới hai máy, cũng được 4-5 năm. Nên nhớ, vòng đời của điện thoại di động ở Việt Nam, hiện chỉ còn 9-12 tháng.
Suy ngẫm 3: Tôi có ông bạn làm nghề lái xe tải, thường phải làm việc đêm. Nếu không có công nghệ tàu, thì ông bạn tôi không thể giải trí xem TV khi chờ lấy hàng, qua điện thoại di động. Với mức giá dưới 2 triệu đồng, ông bạn tôi có nhiều lựa chọn, trong khi 1 chiếc điện thoại xịn, có khi ông bạn tôi chở luôn cái TV đi theo, còn kinh tế hơn.
Update 1: Phát phát hiệu mở màn cho chiến dịch này được khởi động ở Thanh Niên (xem ở đây). Có lẽ, cao trào sẽ là công bố kết quả nghiên cứu (chưa rõ đơn vị nào thực hiện).
Comment1: Người phụ trách chiến dịch này của Nokia sẽ "ăn đòn" vì trong bài trên TN có 1 sơ suất sau. Trong bài có câu: "Trước kia, người ta chỉ cảnh báo về các dòng sản phẩm ĐTDĐ trôi nổi tại các cửa hàng nhỏ lẻ thì nay khách hàng còn dễ dàng nhận thấy những “họ hàng” của dòng hàng trôi nổi đang xuất hiện rất rộng rãi tại các hệ thống siêu thị ĐTDĐ".
Cách viết này, vô tình hay cố ý, đẩy chủ các hệ thống siêu thị đứng về phía các thương hiệu nhỏ. Bạn thử nghĩ rằng, nếu tất cả các hệ thống siêu thị quay lại chỉ trích Nokia thì kết quả sẽ ra sao. Ngoài ra, luận cứ bài viết trên không thuyết phục. Khi nói về "nhái" kiểu dáng, người vạch chiến dịch này quên mất rằng, không có 1 hãng nào đăng ký sở hữu kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam. (Trước kia, Honda từng mắc lỗi này, sau khi thực hiện chiến dịch xong, đã phải đăng ký). Nên nhớ rằng, sản phẩm điện thoại di động có vòng đời rất ngắn, chờ 6 tháng đăng ký thì mẫu đã bị bỏ rồi. Cho nên câu chuyện "giống y chang" không có gì để bàn. Chưa kể là làng di động từng chứng kiến cảnh giống y chang rồi, thử hỏi Samsung mẫu cảm ứng có gì khác với iPhone...
Cũng là hàng OEM, O2 (Anh) khác gì Dopod, bởi cùng OEM ở HTC. Sự khác biệt ở các sản phẩm không nằm ở mẫu mã mà các tiện ích mang lại.
Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009
Tránh thảm họa từ tài nguyên
Ba lý do
Có ba lý do khiến cho phát hiện tài nguyên trở thành nguy hại thường xảy ra ở các nước đang phát triển, theo nhà kinh tế Paul Collier. Thứ nhất, việc tìm thấy các nguồn tài nguyên có giá trị như dầu mỏ, than, hay bauxite, khiến cho việc phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các ngành, và do vậy, khiến cho sức cạnh tranh của một số ngành không thuộc ngành khai khoáng không cao. Các nhà kinh tế gọi đó là căn bệnh Hà Lan (Dutch Disease, xem thêm bài của Huỳnh Thế Du).
Thứ hai, giá hàng hóa dao động không ổn định, theo các chu kỳ chi tiêu tăng và giảm, hệ quả của việc đầu tư kém và chi tiêu bất tương xứng. Theo Collier, trong thời kỳ hoàng kim, một bộ trưởng của Kenya đặt ra ngân sách chi tiêu tăng tới 30 lần.
Cuối cùng, lợi tức khổng lồ và dễ dàng từ khai thác tài nguyên tác động tới quản trị, điều hành và hoạt động không hiệu quả của các định chế công. Collier đưa ra các vấn nạn như tham nhũng, nhóm lợi ích.
Các biện pháp phòng tránh
Trung tuần tháng 5, một nhóm các nhà kinh tế, trong đó có Collier và Nobel Kinh tế Mike Spence, đã nhóm họp ở Oslo và thông qua hiến chương về tài nguyên thiên nhiên. Hiến chương này thiết lập bộ quy tắc các nguyên lý kinh tế cho chính phủ và xã hội để nắm lấy cơ hội phát triển từ phát hiện tài nguyên thiên nhiên.
Những người nghi ngờ tác dụng thực tế của hiến chương có thể xem lại ví dụ cụ thể từ sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng EITI do chính phủ Anh đề xuất năm 2002. Nếu một chính phủ không làm đúng theo đó, họ sẽ phải giải thích cho nhân dân lý do không tuân thủ hiến chương hay sáng kiến trên.
Trong 12 nguyên tắc cơ bản của EITI, ngay điều đầu tiên, ghi nhận vai trò quan trọng của tài nguyên, nhưng cũng lưu ý rằng, nếu quản lý không tốt, sẽ gây ảnh hướng xấu tới phát triển kinh tế và xã hội. Đặc biệt, điều số 4 ghi rõ, chi phí và lợi nhuận từ khai thác tài nguyên sẽ giúp hình thành nên các chọn lựa xã hội thích hợp về phát triển bền vững. Điều cuối cùng ghi rõ, mọi thành phần có liên quan đều có vai trò quan trọng và có mức độ đóng góp nhất định.
Nếu một quốc gia cam kết thực hiện EITI, các hoạt động khai khoáng (mỏ, dầu khí, than đá) đều phải thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, không phân biệt đó là công ty tư nhân, nhà nước hay đầu tư nước ngoài.
Trong sáu tiêu chuẩn của EITI, điều số 5 ghi rõ: xã hội dân sự là một tác nhân thiết kế, đánh giá và giám sát hữu hiệu.
Dưới góc nhìn của Collier và EITI, thì tài nguyên bauxite của Việt Nam đứng hàng thứ ba thế giới về trữ lượng, cũng có thể là thảm họa nếu không có phương án khai thác hiệu quả.
Kỳ 3 Di dân Trung Quốc: Nền kinh tế thứ ba thế giới
Khoảng 60 triệu Hoa kiều,trong đó hơn 50 triệu ở Đông Nam Á, 6,5 triệu ở bắc Mỹ. So với dân số Trung Quốc, số dân ở nước ngoài không đáng kể. Ước tính, tổng tài sản của Hoa kiều ở nước ngoài vào khoảng 200-300 tỉ USD. Nguồn lực kinh tế của khối này, theo Asia Times, có thể đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Nhật.
Nguồn lực kinh tế chủ đạo của Đông Nam Á
Hoa kiều ở Đông Nam Á không chỉ thống trị trong thương mại và dịch vụ mà còn nắm giữ ngân hàng và bất động sản. Chiếm cơ cấu nhỏ về dân số ở các nước sở tại, nhưng khả năng chi phối kinh tế của khối người Hoa là cực kỳ lớn. (Xem bảng về Hoa kiều ở Đông Nam Á và nguồn lực kinh tế).
Các số liệu trên cho thấy, nếu kinh doanh ở Đông Nam Á, bạn bắt buộc phải làm việc với cộng đồng người Hoa.
Không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong các nền kinh tế của các nước trong khu vực, thậm chí nguồn nhân lực Hoa kiều còn chi phối kinh tế lao động của một số nước. Theo tiến sĩ James Chin (Đại học Hongkong), nếu không có bổ sung nhân lực từ Trung Quốc, Campuchia sẽ gặp khó khăn.
Thách thức và cơ hội
Không thể phủ nhận đóng góp của lao động Trung Quốc cũng như vai trò của đầu tư từ nước đông dân nhất thế giới tới khu vực, nhưng sự dịch chuyển của lao động nhập cư Trung Quốc cũng như tác động của người Trung Quốc định cư khiến chính quyền sở tại của nhiều nước phải rà soát lại chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Các học giả Trung Quốc nhấn mạnh tới việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật do người nhập cư gốc Hoa mang lại trong giai đoạn hiện tại, thay vì chỉ đóng góp cơ bắp như trong thế kỷ 18 hay 19.
Trong 10 năm qua, nhà buôn, nhà thầu, kỹ sư và nhân công kỹ thuật Trung Quốc không chỉ giúp cải thiện hạ tầng giao thông ở Lào, mà còn gia tăng thương mại hai chiều giữa Lào và Trung Quốc. Ở thủ đô của Campuchia, nhà hàng của Hoa kiều vượt lên trên các nhà hàng của dân bản xứ. Tốc độ phát triển và sự hiện diện của cộng đồng người Hoa không ít thì nhiều, khiến dân địa phương lo ngại. Trong 20 năm qua, không hiếm cảnh người dân bản địa phản ứng lại cộng đồng Hoa Kiều như ở Indonesia năm 1998.
Theo Andrew Forbes, chuyên gia về Trung Quốc ở Chiang Mai (Thái Lan), khác biệt của làn sóng mới từ Trung Quốc với lớp người trước, là mối dây liên kết mật thiết hơn với đại lục. “Lớp người mới yêu nước Trung Hoa và trung thành với tổ quốc hơn” – Forbes nhận xét từ quan sát hơn 20 năm nghiên cứu Trung Quốc. Quan niệm đó được nhà nghiên cứu Trung Quốc học, Nyiri Pal, người Hungary tán đồng.
Tuy chỉ chiếm số lượng nhỏ, nhưng ảnh hưởng lâu dài từ lao động nhập cư Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á rất lớn. Thách thức lớn nhất, với các nước, là kiểm soát lao động nhập cư hợp pháp. Trong 10 năm qua, lợi nhuận từ việc đưa người sang Anh và Mỹ đã tăng gấp đôi, với mức hiện hành là 30.000 USD/người qua Anh và 70.000 USD/người sang Mỹ. Đối sách với làn sóng di dân, theo tiến sĩ John walsh (đại học Shinawatra, Thái Lan), không chỉ ở việc quy định mức lương tối thiểu, đăng ký lao động, mà còn phải tính tới chính sách lâu dài về nguồn nhân lực và bài toán an sinh xã hội. Tuy nhiên, lợi ích của Trung Quốc trong việc việc người Hoa di dân ra nước ngoài mang tính chiến lược. Trên một tạp chí Trung Quốc có trích đăng ý kiến của hội đồng nhà nước về nguồn nhân lực mới di dân, ghi rõ: “Đó là nguồn lực quan trọng trong tương lai, gúp thắt chặt quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây. Tăng cường sức mạnh của khối di dân Trung Quốc mới không chỉ mang lại ích lợi thiết thực cho Trung Quốc mà còn quảng bá hình ảnh quốc gia cũng như gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và phát triển mối quan hệ với các nước có người Trung Quốc sang định cư”.
Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009
Kỳ 2 - Di dân và chính sách từ địa phương tới quốc gia
Địa phương tạo điều kiện
Hiểu rõ điều này, nên người dân các tỉnh ven biển Trung Quốc không gặp trở ngại nào từ chính quyền địa phương khi họ tìm đường ra nước ngoài. Ở phần lớn những nơi có di dân mới ra đi, chính quyền cơ sở thường khuyến khích di dân hợp pháp, có những nơi thậm chí ngầm cho phép di dân theo đường bất hợp pháp. Ở những nơi này, hành động di dân ra nước ngoài đã thành thời thượng, rất nhiều cán bộ cơ sở đồng tình với câu ngạn ngữ mới “đi một người, giàu cả nhà, đi mười người, giàu cả thôn”. Họ tạo điều kiện thuận lợi cho di dân ở huyện mình, xã mình, có huyện, xã, ban ngành chức năng thậm chí còn soạn in những thông tin về nơi cần đến của di dân, tình hình đồng hương và phương thức liên hệ, tạo thuận tiện cho di dân ra nước ngoài làm ăn. Đồng thời, địa phương còn tích cực phối hợp với người Hoa định cư ở nước ngoài để chuẩn bị các giấy tờ chứng minh cần thiết để định cư.
Chủ trương cởi mở với người ra nước ngoài tìm cơ hội một mặt giúp chính quyền địa phương giảm áp lực về việc làm tại chỗ, bớt căng thẳng về an sinh xã hội, mặt khác cũng mang lại nguồn lợi từ thu nhập của lao động gửi về. Số liệu thống kê cho thấy, trong mười năm đầu mở cửa, Trung Quốc thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp được được 9,546 tỷ USD, trong đó 96% từ vốn của người Hoa ở nước ngoài. Khoảng đầu tư của người Hoa ở Đông Nam Á chiếm gần 1/3.
Cùng với hệ thống giao thông đường bộ phát triển, các tuyến hàng không trong khu vực khiến cho di dân tới Đông Nam Á trở nên thuận tiện do chi phí thấp hơn so với sang các nước đang phát triển.
Trung ương ủng hộ
Bỏ quản lý theo hộ khẩu, thủ tục cấp hộ chiếu đơn giản và đưa lao động ra nước ngoài vốn là ba chính sách cơ bản tạo điều kiện cho hai làn sóng người Hoa ra nước ngoài làm ăn, sinh sống của chính quyền trong thời gian đầu. Làn sóng thứ ba gắn liền với chủ trương khuyến khích doanh nghiệp ra nước ngoài làm ăn và chủ trương đầu tư, viện trợ cho các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Hiệp định khung thương mại tự do giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á tuy không nói tới lao động, nhưng đi cùng với hàng hóa, đầu tư từ Trung Quốc là các thương nhân, chuyên viên kỹ thuật và lao động từ có tay nghề tới giản đơn.
Cũng giống như bao thế hệ người Hoa khác khi ra nước ngoài, mô hình chung của người Hoa mới nhập cư cũng theo đường kiếm sống bằng bán hàng Trung Quốc trên hè phố, sau đó tích lũy vốn để mở cửa hàng nhỏ, dần dần tới phát triển thành cửa hàng bán buôn và mở sang ngành khác. Khác biệt lớn nhất giữa lớp người cũ và mới là lớp người sau phụ thuộc nhiều vào hàng hóa từ Trung Quốc hơn.
Từ khi Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng của nước này tại các nước như Myanmar, Lào, Campuchia thông qua viện trợ chính phủ và đầu tư, lao động Trung Quốc hiện diện ngày càng nhiều. Ở những công trình đầu tư và viện trợ xây dựng của người Trung Quốc ở Đông Nam Á thông thường doanh nghiệp Trung Quốc đều phải đưa sang một số lượng lớn nhân viên quản lý, nhân viện kỹ thuật và công nhân lành nghề của Trung Quốc.
Tính đến 2007, có hơn 3.000 công ty Trung Quốc đăng ký ở Campuchia, tập trung chủ yếu vào ngành điện, dệt, vật liệu xây dựng. Theo ước tính của một nhà kinh tế dân số phương Tây, di dân Trung Quốc đến Campuchia có thể lên tới 300 ngàn người, rải rác ở khắp nơi. Theo thống kê của Ủy ban đầu tư Myanmar, tính đến hết năm 2007, có 27 dự án Trung Quốc đầu tư vào Myanmar. Trong các năm 2003-2004, Trung Quốc đứng đầu trong số các nước đầu tư vào Lào. Bộ khai khoáng Lào công bố, đến tháng 8.2006, đã có 43 dự án trong ngành khai khoáng do Trung Quốc đầu tư, chiếm 34% trong tổng số các dự án khai khoáng ở Lào. Các doanh nghiệp đầu tư Trung Quốc đều cần một lượng lớn lao động lành nghề và nhân viên kỹ thuật trình độ trung bình, đa số tìm cách đưa sang từ Trung Quốc đại lục sang. Hơn nữa, những dự án này thông thường do công ty Trung Quốc đảm nhận xây dựng, những công ty đó cũng phần lớn thu hút những người làm xây dựng các loại của Trung Quốc.
Lao động Trung Quốc sang Đông Nam Á không chỉ qua các dự án đầu tư mà còn theo các hợp đồng thi công công trình. Từ năm 1999, Myanmar trở thành thị trường lớn chỉ sau Singapore về bao thầu công trình của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trong thời gian từ năm 2000 đến 2005, giá trị các công trình nhận thầu của Trung Quốc ở Mianma lên tới hơn 1,7 tỷ USD, tốc độ tăng nhanh hơn các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Cũng trong thời gian đó, rất đông di dân Trung Quốc đổ sang Mymanar, hiện tượng nói trên liên quan trực tiếp đến sự gia tăng nhanh chóng số lượng công trình nhận thầu của Trung Quốc ở nước này.
Theo nghiên cứu do McCartan công bố năm 2008, hầu hết lao động Trung Quốc khi hết hợp đồng đều tìm cách ở lại, cùng với cộng đồng người Hoa bản địa, hình thành nên các khu phố Tàu như ở Mandalay (Myanmar) hay Vientinane (Lào).
Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009
Kỳ 1 Di dân Trung Quốc sang Đông Nam Á: Làn sóng thứ ba
Ngoại ô Mandalay, thành phố lớn nhất miền đông Myanmar vẫn mang dáng dấp của thuộc địa Anh thế kỷ 19. Các sư mặc áo cà sa dài. Nhưng trung tâm thành phố đã hoàn toàn thay đổi với sự xuất hiện của khu thương mại lớn do người Hoa mới sang đây lập nghiệp lập nên. Bên trong, tràn ngập đồ điện, gia dụng Trung Quốc, phía ngoài bán táo Tàu. Một cư dân địa phương nhận xét: “Hàng hóa bán ở đây có xuất xứ từ Trung Quốc”.
Sự hình thành trung tâm thương mại do người Hoa làm chủ ở Mandalay không phải là chuyện cá biệt ở Đông Nam Á. Khi làn sóng người Hoa nhập cư tới các nước trong khu vực nổi lên từ năm 1980.
Hai làn sóng đầu
Cải cách kinh tế do Đặng Tiểu Bình khởi xướng mang lại cơ hội cho người Trung Quốc ra nước ngoài làm ăn, sinh sống. Bỏ thủ tục quản lý theo hộ khẩu, nới lỏng chính sách cấp hộ chiếu trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, được các nhà nghiên cứu xem là tiền đề cho làn sóng di dân của Trung Quốc.
Dựa trên mối dây liên hệ trong cộng đồng Hoa kiều ở Đông Nam Á, người dân các tỉnh ven biển phía nam Trung Quốc, có cơ hội ra các nước làm ăn. Số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ 1980 tới nay, có khoảng 2,5 triệu người Hoa đến Đông Nam Á làm ăn sinh sống. Dựa vào cầu nối người Hoa ở các nước Đông Nam Á, trong hai đợt di dân cuối thế kỷ 20, người Hoa chủ yếu sang các nước có cộng đồng Hoa kiều mạnh. Nhóm di dân mới đầu tiên đến Đông Nam Á là từ các khu vực Tấn Giang, Phúc Kiến và Triều Châu ở Quảng Đông – quê hương Hoa Kiều truyền thống. Người Hoa ở Philippines chủ yếu quê Tấn Giang, người Hoa ở Thái Lan chủ yếu quê Triều Châu. Với sự giúp đỡ của người thân, bạn bè nơi sở tại, những di dân mới này hội nhập rất nhanh với khu người Hoa ở đó.
Đợt đầu tiên chủ yếu là người Triều Châu, Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông đến Thái Lan và người Nam Phúc Kiến đến Phillipines. Với sự giúp đỡ của người thân ở Thái Lan, người Triều Châu, Sán Đầu đã đến Thái Lan trên danh nghĩa thăm thân nhân. Sau khi chính quyền Thái Lan mở rộng visa du lịch cho người Trung Quốc năm 1988, các công ty du lịch ở Triều Châu, Sán Đầu có thêm dịch vụ mới: đưa người sang Thái Lan. Trong 15 năm, ươc tính của hội đồng hương Triều Châu có 200 ngàn người Hoa di dân sang Thái Lan. Khi đời sống kinh tế vùng Triều Châu khá lên, cư dân vùng này ít di dân hơn, thay vào đó là các vùng khác như Phúc Kiến.
Người Hoa đến Phillippines theo cách tương tự như Thái Lan. Từ 1992, không chỉ có người thu thập thấp di dân sang Phillipines, mà người có của ăn của để cũng sang định cư do Phillipines sửa đổi luật cư trú. Theo đó, người nước ngoài đầu tư tại Phillipines trên 75 ngàn USD sẽ được cấp giấy phép cư trú đầu tư lâu dài.
Đợt di dân mới thứ hai đến Đông Nam Á xuất hiện vào giữa thập niên 90, kéo dài liên tục cho đến nay, chủ yếu đến Singapore, Malaysia và Indonesia. Động lực của đợt di dân này là lớp thương nhân Đài Loan. Cuối thập niên 1990, khi kinh tế Đài Loan phát triển, lớp thương nhân ở đây tỏa đi Đông Nam Á làm ăn, có lúc lên tới 100 ngàn người. Riêng Singapore tiếp nhận hơn 100 nghìn lao động Trung Quốc, chưa kể số du học sinh Trung Quốc sau khi học ở châu Âu, Mỹ tới Singapore làm việc. Malaysia, Indonesia cũng trở thành điểm đến của lao động nhập cư Trung Quốc.
Làn sóng thứ ba
Trong các tác nhân của hai làn sóng đầu, nổi lên hai nguyên nhân chính là cải thiện thu nhập của lớp người thu nhập thấp và tìm kiếm cơ hội làm ăn, giao thương. Thì làn sóng thứ ba chủ yếu từ chính sách đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc, cũng như chính sách của chính phủ.
Làn sóng di dân mới lần thứ ba đến Đông Nam Á bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 21, chủ yếu đến các khu vực đất liền ở Đông Nam Á như: bắc Myanmar, Lào và bắc Thái Lan. Quy mô của làn sóng di dân thứ ba cũng vượt xa hai đợt trước, trong đó đông nhất là Myanmar.
Số liệu do nhà nghiên cứu độc lập Sudha Ramachandran (Ấn Độ) công bố năm 2005, trong 10 năm, có trên một triệu dân Trung Quốc sang Myanmar. Thậm chí, nhà nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến cơ cấu chủng tộc ở bắc Myanmar đã thay đổi do di dân Trung Quốc.
Sự khác biệt so với các đợt di dân trước đó, theo tiến sĩ James Chin (Viện nghiên cứu châu Á, đại học HongKong), ở làn sóng thứ ba gắn bó mật thiết hơn với tổ quốc Trung Quốc. Trong khi các làn sóng đầu, tuy có gắn kết, nhưng chủ yếu là từ tình cảm thân tộc níu kéo.
Ở làn sóng thứ ba, gây chú ý với các nghiên cứu là những tập thể người Hoa đế bắc Myanmar, Lào và Campuchia làm nghề trồng trọt. ỞShan State , phía Bắc Myanmanr, có nông trường trồng mía do người Trung Quốc đầu tư, dường như tất cả lao động đều đến từ Vân Nam , lên tới 5.000 người.
Phi Giao tổng hợp
Trung Quốc vươn ra biển: Mục tiêu kinh tế, phương cách quân sự
Quân sự bảo vệ kinh tế
Các chuyên gia quân sự quan tâm nhiều tới việc Trung Quốc phô diễn tàu ngầm hạt nhân nhân ngày kỷ niệm thành lập hải quân nước này và xuất hiện các phỏng đoán trong năm 2009 Trung Quốc bắt tay đóng tàu sân bay. Cơ sở hình thành phỏng đoán dựa trên tin tức Trung Quốc đã mua ba tàu sân bay cũ để nghiên cứu công nghệ thiết kế. Chuyên gia bình luận quân sự Andrei Chang cho rằng, do khả năng bùng nổ chiến tranh ở eo biển Đài Loan thấp, nên quân đội Trung Quốc tiến hành điều chỉnh chiến lược quay trở lại coi trọng vấn đề chủ quyền và lợi ích trên biển tại biển Hoa Nam (biển Đông) và tại biển Hoa Đông… Từ tháng 5.2008 trở lại đây, Trung Quốc điều động tàu điều tra tích cực hoạt động tại khu ực biển Hoa Nam, đưa tàu hộ vệ tên lửa lần đầu tiên tiến vào eo biển Tsugaru (Tây Thái Bình Dương).
Tháng 12.2008, Trung Quốc phái đội tàu hộ tống tới vùng biển Somalia. Đây là lần đầu tiên Hải quân Trung Quốc hoạt động bên ngoài Thái Bình Dương.
Có nhiều cách nhìn về nguyên nhân hải quân Trung Quốc gia tăng sự hiện diện không chỉ ở vùng biển gần mà còn tới Ấn Độ Dương. Chuyên gia Booz Alen Hamilton trong bài phân tích về tương lai năng lượng ở châu Á đã nhận định rằng, sự kích thích của động cơ kinh tế là nguyên nhân chủ yếu khiến chính sách của Trung Quốc chuyển hướng từ lục địa ra đại dương. Đây cũng chính là mô thức mà Anh, và sau đó là Mỹ, đã từng áp dụng trong quá khứ. Gót chân Achilles của Trung Quốc là tài nguyên như dầu mỏ, quặng. Trong mấy năm qua, các công ty Trung Quốc tìm mua các mỏ đồng, mỏ dầu ở châu Phi, Úc. 60% năng lượng nhập khẩu vào Trung Quốc được vận chuyển qua đường Ấn Độ Dương. Hiện nay, Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu lửa đã giúp giải quyết một nửa nhu cầu tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc, trong đó 95% lượng dầu thô nhập khẩu là qua đường biển. Con số thống kê của Hải quan cũng cho biết tháng Ba vừa qua, Trung Quốc đã nhập 52,08 triệu tấn quặng sắt và 99% lượng hàng này phải vận chuyển bằng đường biển. Vì vậy, Trung Quốc không chỉ tăng cường sức mạnh của hải quân bằng các khoản ngân sách trang bị tàu ngầm nguyên tử hay đóng tàu sân bay mà còn gia tăng sự hiện diện ở vịnh Ba Tư và vịnh Bengal.
Chiến lược chuỗi ngọc trai
Trong khi chờ đợi các tàu sân bay như một căn cứ nổi, thì Trung Quốc sử dụng đòn bẩy kinh tế với việc hỗ trợ xây dựng và rồi hiện diện ở một loạt cảng trong khu vực Ấn Độ Dương. Nhà nghiên cứu Sudha Ramachandran trên Asiatimes đưa ra con số một tỉ USD mà Trung Quốc giúp Pakistan xây dựng cảng Gwadar, chỉ cách eo biển Hormuz khoảng 180 hải lý. Đây là vị trí chiến lược để kiểm soát con đường vận chuyển dầu mỏ trên Ấn Độ Dương. Gwadar cũng là cánh cửa ra biển gần nhất của Trung Á qua con đường cao tốc nối hải cảng này với vùng Trung Á vốn đang được xây dựng. Theo nhà phân tích Zia Haider ở trung tâm Stimson (Mỹ), Gwadar là trạm trung chuyển nhập khẩu dầu từ Iran và châu Phi tới vùng Xinjiang của Trung Quốc. Nên nhớ, 60% năng lượng nhập khẩu vào Trung Quốc là từ Trung Đông. Đặt chân được ở Gwadar, Trung Quốc có thể dõi mắt trông theo hoạt động của hải quân Mỹ ở vùng Vịnh hay nhất cử, nhất động của Ấn Độ ở biển Arab, theo Haider.
Chuỗi ngọc trai chiến lược của Trung Quốc còn bao gồm cảng container ở Chittagong ,ở Bangladesh, hay thông qua các trạm radar, cơ sở nạp nhiên liệu đặt tại Sittwe, Coco, Hianggyi, Khaukphyu, Mergui và Zadetkyi Kyun của Myanmar, ở một số ở Thái Lan, Campuchia.
Theo Giáo sư Nghê Lạc Hùng, Viện chính trị - pháp luật Thượng Hải ,Trung Quốc ngày càng cảm thấy lo ngại về tuyến đường vận chuyển trên biển và mối lo ngại này đã trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược đại dương. Ông nói lĩnh vực ngoại thương cũng như một người vợ làm ăn ở hải ngoại, còn Hải quân giống như người chồng. Người vợ đi đến đâu, chồng cũng phải đi theo đến đó. Nếu không, chẳng may người vợ gặp cướp, thì người chồng sẽ “mất cả chì lẫn chài”.
Phi Giao tổng hợp (Asia times, Tương lai năng lượng ở châu Á của Booz Alen Hamilton)
Thứ Năm, 21 tháng 5, 2009
Khi dân làm vật tế thần
Bình luận trên Telegraph cho rằng, hành động này xảy ra do uy thế của Trung Quốc đã tăng lên, khi nước này đứng thứ ba về tài trợ cho ADB. Cũng theo bài báo trên, có thể Ấn Độ sẽ xích lại gần Mỹ hơn để duy trì cân bằng quyền lực.
Suy ngẫm của người viết không đặt nặng lắm về vị thế của các bên trong trò chơi đi tìm điểm cân bằng này, mà mối quan tâm là một triệu người dân trong vùng sẽ không được hưởng lợi từ dự án nước trên. Hành xử của quốc gia đông dân nhất thế giới có thể nhìn nhận ở góc độ khác: đẩy Chính phủ Ấn Độ vào thế khó xử. Thương dân, thì dân nước nào cũng nên được uống nước sạch, vậy sao không giao cho Trung Quốc đi. Mà không có dự án nước sạch vì không có tiền, hóa ra chính phủ Ấn làm dự án trên cốt để mị dân. Đúng là người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán. Đôi khi, tính toán chi li là đằng khác.
Thứ Tư, 20 tháng 5, 2009
Tiêu xài và tiết kiệm
Tim Hardford, tác giả của Nhà kinh tế nằm vùng, cho biết, một nghiên cứu cảm ứng từ quét trong não bộ con người cho thấy, tiến trình tự phóng chiếu/giả tưởng về hoạt cảnh mua sắm trong đầu cũng cho kết quả tương tự về cảm xúc như khi mua được vật ấy. Nghiên cứu trên do nhà kinh tế học thần kinh (neuroeconomist) Ben Seymour (Anh) tiến hành. Do vậy, đứng trên góc độ tâm lý, để tăng sức hấp dẫn của tiết kiệm, hãy tưởng tượng ta đang bỏ ống heo để mua món đồ mà ta mơ ước. Chứ cứ nghĩ "dàm dụm phòng khi mưa gió" có lẽ không vượt qua được lực hấp dẫn từ mua sắm.
Một phương cách hữu hiệu khác là Tự nhắc nhở về ý thức tiết kiệm mỗi khi móc ví, vốn đã được nhà kinh tế Dean Kaplan (đại học Yale) thử nghiệm ở Bolivia và Philippines. Phương thức này khá hiệu quả dù đối tượng áp dụng là người có thu nhập thấp.
Phương thức khác là hình dung cụ thể về kết quả nhận được từ tiền tiết kiệm. Nếu lãi suất tiết kiệm 5%/năm, thì sau 20 năm, nó đã tăng gấp ba số tiền bạn để dành.
Richard Thaler, nhà kinh tế học hành vi, cho rằng: tự động để ra một khoản tiền nhất định khi thanh toán hóa đơn hàng tháng là cách hiệu quả để tiết kiệm. Giáo sư này cho rằng, nếu khi móc ví mà bắt đầu tính toán để dành, thì khoản tiền tiết kiệm là con số 0.
Cuối cùng, tiết kiệm là hành vi đối phó với rủi ro tương lai. Hành vi này, theo nghiên cứu của Ulrike Malmendier (Đại học California) và Stefan Nagel (Stanford), chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế mà con người trãi qua thời thơ ấu.
Từ các phân tích trên, có thể thấy thế hệ 6x và 7x ở Việt Nam sẽ là thế hệ có ý thức tiết kiệm cao hơn so với 8x và 9x. Vậy tâm lý "ăn chắc, mặc bền" có thể chỉ đúng với người Việt thuộc hai thế hệ đầu. Ngoài ra, hành vi mua sắm bộc phát (impulsive buying) có lẽ chủ yếu ở đối tượng từ 8x trở lên nhiều hơn là 7x.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, để thắng được tâm lý "của để dành", marketing cũng phải tạo được các phóng chiếu mua-cũng-là-để-dành, thì lực cản từ tiết kiệm có thể bị triệt tiêu. Điều còn lại là làm sao tạo được sự phóng chiếu này?
Thứ Hai, 18 tháng 5, 2009
Kinh tế đang cần thêm những câu chuyện kể
Có nhiều cách lý giải như chứng khoán thường có pha tăng sớm hơn so với nền kinh tế. Robert Shiller có cách lý giải riêng. Đồng tác giả Animal Spirit (viết chung với Nobel Kinh tế Akerlof), các câu chuyện dòng tiền thông minh của các nhà đầu tư tầm cỡ Buffet, các nhà đầu cơ tinh nhanh như G. Soros giúp họ trở thành tỉ phú tạo ra vòng lặp vô tận cho các nhà đầu tư. Sức cám dỗ của các câu chuyện kia cũng với các hình mẫu có thật như Buffet và Soros khiến cho người nghi ngờ nhất cũng phải tin vào một phần câu chuyện. Sự chiếu phóng đó được hỗ trợ thêm bởi phản ánh thực tế của các phiên tăng điểm ngắn hạn, làm gia tăng sức hút của vòng lặp từ chuyện kể - thực tế đầu tư - kết quả - chuyện kể. Kết quả là sự chiếu phóng sẽ dẫn tới sự siêu thăng mà trong trí tưởng tượng của nhà đầu tư hình ảnh của Buffet hay Soros có khi chính là một phần hình ảnh của họ hóa thân vào.
Theo Shiller, tháng ba không có các câu chuyện kể hấp dẫn như trên mà do thị trường vắng bóng các tin xấu sau khi dồn dập xuất hiện kể từ tháng 9.2008. Shiller đúc kết rằng, khi báo chí tràn ngập hình ảnh nhà treo bảng bán rẻ hay bị ngân hàng bán trừ nợ, thì người đọc đã "bảo hòa" với các dạng tin này. Trong tình trạng đó, mặc nhiên, con người cho rằng, khủng hoảng đang ở giai đoạn tới đáy. Kết cục là, không sớm thì muộn, kinh tế sẽ phục hồi.
Theo Shiller, kịch bản phục hồi kinh tế cũng giống như phim, theo nghĩa, không ai biết chắc sẽ phải viết kịch bản thế nào cho vừa ý khán giả, mà nhà biên kịch chỉ biết rõ khi khán giả xem phim. Do vây, các tốt nhất là viết ra các câu chuyện có sức thuyết phục. Shiller cho rằng, làm như vậy không gì bằng giữ cho hệ thống tư bản chủ nghĩa vận hành tốt hơn, không có sự bảo hộ. Quan trọng hơn, Shiller nhấn mạnh tới các vấn đề căn cốt của sự vận hành tư bản, không để kết cục là các bong bóng tăng trưởng như vừa qua.
Đối chiếu với thực tế ở Việt Nam, trong tháng 2,3 dồn dập thông tin về khó khăn của doanh nghiệp, thất nghiệp, nhưng tháng 4 các câu chuyện này ít dần. Cuối tháng 3, còn rộ lên thông tin chuyển động thị trường nhà đất. Rồi lạm phát giảm.
Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2009
Những cây nến trắng dài
Trên biểu đồ hình nến, cây nến trắng dài của phiên cuối tuần phủ lên cây nến đen của ngày thứ tư và tạo thành một khoảng hở với cây nến đen của ngày thứ năm. Đáng chú ý, cây nến trắng thân dài này xuất hiện vượt đường giảm giá dài hạn thiết lập từ năm ngoái. Một dấu chỉ cho thấy VNindex đã qua thời kỳ giảm giá. Ở đồ thị tuần, cũng xuất hiện cây nến trắng ở trên ngưỡng hỗ trợ lập ngày 28.3.2008. Khả năng VNindex sẽ còn tăng trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, tháng 5 và tháng 6 không phải là tháng VNindex có kết quả tốt, theo thống kê. Vẫn cần thêm các chỉ báo khác mà diễn biến của hai tuần cuối tháng 5 rất đáng chú ý.
Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009
Nghiên cứu theo đơn đặt hàng
Một người bạn làm ở đơn vị nghiên cứu cho biết, anh và đồng nghiệp vừa tiếp đại diện quảng cáo của một hãng nước ngoài đang chiếm thị phần hàng đầu trong hàng tiêu dùng công nghệ ở Việt Nam. Nội dung buổi làm việc xoay quanh việc đặt hàng "nghiên cứu thị trường". Tuy nhiên, đại diện quảng cáo kia không ngần ngại nói thẳng, kết quả nghiên cứu sẽ đi tới các kết luận như vậy nè. Bên nghiên cứu sau khi thực hiện sẽ phối hợp/họp báo và công bố kết quả điều tra "mang tính khoa học" để các phương tiện truyền thông có thể đăng tải. Tất nhiên, làm vậy thì kết quả công bố mang đầy "tính khách quan" và "khoa học".
Dĩ nhiên, bên nghiên cứu từ chối. Có lẽ, vì họ không quen kiểu "bán danh" khoa học như vậy.
Người viết sẽ cố gắng cập nhật trên blog này các kết quả nghiên cứu theo đơn đặt hàng như vậy, khi sản phẩm xuất hiện.
Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009
Phát triển công nghiệp xe hơi: Nhà nước bảo hộ, người dùng “ủng hộ”
Nhà nước bảo hộ công nghiệp xe hơi từ năm 1991 đến nay, là điều không phải bàn. Do vậy, người dùng Việt Nam, trong đó có cả nhà nước với tư cách người mua lớn, phải "ủng hộ" khá nhiều cho doanh nghiệp lắp ráp xe hơi mà kết quả nhận được là chiếc xe giá cực kỳ cao, chất lượng chưa chắc tương đương
(Nguyên văn bài viết trên SGTT, chỉ trừ tít được "hiền hòa hóa")
Ngay sau khi công bố lượng xe tiêu thụ trong tháng 4 của 16 thành viên thuộc hiệp hội các nhà sản xuất xe hơi Việt Nam (VAMA) chỉ đạt hơn 7.700 chiếc, giảm 42% so với cùng kỳ năm trước, VAMA có văn bản kiến nghị lên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, đề nghị cho hoãn thuế tiêu thụ đặc biệt, nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lượng xe tiêu thụ.
Lập luận trong công văn nhấn mạnh tới ảnh hưởng của thuế qua công nhân mất việc và ảnh hưởng tới kế hoạch nội địa hóa sản phẩm của các doanh nghiệp thành viên. VAMA cho rằng, dòng xe từ 6-9 chỗ nên được xác định là dòng xe chiến lược và nhà nước phải có chính sách ưu tiên để tăng doanh số, đủ để doanh nghiệp đầu tư, phát triển công nghiệp phụ trợ, qua đó, nâng tỉ lệ nội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những lập luận trên được VAMA sử dụng nhiều lần để tăng tính thuyết phục cho các đề nghị có lợi cho các thành viên của VAMA. Lập luận trên hoàn toàn bỏ qua các tính toán về lợi ích mà các doanh nghiệp lắp ráp xe hơi trong nước đã được thụ hưởng kể từ năm 1991 khi liên doanh sản xuất xe hơi đầu tiên có mặt ở Việt Nam. Với mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp xe hơi trong nước, chính phủ đã dựng lên một hàng rào bảo hộ bằng thuế nhập khẩu áp dụng cho xe nhập khẩu, thậm chí cấm nhập xe đã qua sử dụng và miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho xe trong nước. Kết quả là tỉ lệ nội địa hóa thấp hơn nhiều so với những gì mà các thành viên VAMA cam kết khi nhận giấy phép đầu tư. Công nghiệp phụ trợ không có.
Theo tiến sĩ Từ Thúy Anh, (báo cáo Kinh tế Việt Nam 2008), thuế nhập khẩu khiến cho sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả trong sản xuất và người tiêu dùng phải cắt giảm tiêu dùng và mua hàng hóa với giá đắt. Tiến sĩ Anh đề xuất, thay vì thuế nhập khẩu, Chính phủ có thể sử dụng thuế tiêu thụ đặc biệt. Tác dụng của thuế này là cũng làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai, nhưng tác động không mạnh bằng thuế nhập khẩu. Đổi lại, thuế tiêu thụ đặc biệt lại có nhiều lợi thế như đem lại nguồn thu dồi dài cho ngân sách và chi phí bảo hộ thấp hơn thuế nhập khẩu nên không tạo sự méo mó trong sản xuất, và nguồn lực xã hội vẫn được phân bố hiệu quả. “Trong dài hạn, thuế tiêu thụ đặc biệt có thể tạo cơ chế sàng lọc, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh hơn, tạo nội lực thực sự và lâu dài cho nền kinh tế” – tiến sĩ Anh viết.
Minh chứng cho luận điểm này, tiến sĩ Anh sử dụng dữ liệu tổng cục thống kê, năm 2008, Việt Nam nhập khẩu 50.000 xe hơi, với giá nhập khẩu trung bình là 20.700 USD. Lượng xe sản xuất trong nước là 100.000 chiếc, với giá đã bao gồm thuế và phí là 41.400USD.
Theo tính toán của tiến sĩ Anh, trong điều kiện thương mại tự do, lượng sản xuất trong nước là 64.500 chiếc, lượng tiêu dùng là 165.000 chiếc, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu là 105.000 chiếc.
Theo dữ liệu trên, nếu dùng thuế nhập khẩu, lượng xe nhập khẩu sẽ giảm 52% so với điều kiện thương mại tự do. Thu ngân sách sẽ là 1,035 tỉ USD, chi phí bảo hộ của việc áp thuế nhập khẩu là 568,25 triệu USD. Nếu áp thuế tiêu thụ đặc biệt, thu ngân sách là 3,105 tỷ USD, tăng thêm 200% so với khi sử dụng thuế nhập khẩu; Chi phí bảo hộ của việc áp thuế tiêu thụ đặc biệt là 155,25 triệu USD, giảm 173% so với trường hợp dùng thuế nhập khẩu.
Trong hai trường hợp, người tiêu dùng đều chịu thiệt 3,2 tỉ USD. Ở trường hợp đầu, doanh nghiệp được lợi 1,6 tỉ USD. Nếu dùng thuế tiêu thụ đặc biệt, người sản xuất không được lợi gì.
Có thể thấy rằng, trong 18 năm qua, không chỉ có chính phủ “ủng hộ” ngành sản xuất xe hơi trong nước, mà người tiêu dùng cũng “đóng góp” một phần không nhỏ để thúc đẩy ngành công nghiệp non trẻ này. Để rồi, kết quả họ nhận được là một chiếc xe giá cao gấp 2-3 lần so với người dùng nước khác, mà chất lượng chưa chắc đã tương đương.
Thứ Hai, 11 tháng 5, 2009
Kỳ vọng 400 điểm
Theo thống kê của công ty chứng khoán FPTS, năm nhóm ngành tăng mạnh nhất trong tuần gồm dịch vụ công, du lịch và giải trí, tài nguyên, hóa chất và ngân hàng, với mức tăng từ 17% tới 20%. Động lực tăng trưởng từ năm nhóm ngành này đã giúp VNindex thoát khỏi đường kênh giảm giá dài hạn được thiết lập trong hai năm qua, theo bình luận của công ty chứng khoán TP.HCM (HSC). Khối lượng giao dịch bình quân đạt 1.149 tỉ đồng, tăng gấp đôi so với tuần trước.
Gây chú ý trong tuần giao dịch là kỷ lục mới của 120 triệu cổ phiếu giao dịch trên hai sàn trong phiên ngày 6.5. Tương ứng với nó là 2.300 tỉ đồng giao dịch trên sàn TP.HCM và hơn 1.000 tỉ đồng ở sàn Hà Nội. Theo các chuyên gia phân tích, lượng giao dịch tăng vọt như vậy là do các nhà đầu tư chốt lời. Tâm lý này có phần “ăn theo” diễn biến ở các sàn châu Á, khi các nhà đầu tư đồng loạt bán ra, chốt lãi, trước khi có có kết quả đánh giá “sức khỏe” 19 ngân hàng Mỹ. Dù VNIndex giảm điểm trong phiên “xả hàng”, khối đầu tư nước ngoài đã mua ròng, với giá trị trên 400 tỉ, một con số bằng cả giá trị giao dịch mua ròng của cả tháng trong các tháng cận và sau Tết.
Động thái mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài là một dấu hiệu tích cực cả về tâm lý lẫn lực đẩy chứng khoán đi lên. Thống kê trong sáu tháng trở lại đây của FPTS, trong năm lần khối ngoại mua ròng lớn, có bốn lần thị trường tăng điểm sau đó.
Trong phiên giao dịch cuối tuần, VNIndex tăng mạnh ở giữa phiên, nhưng yếu dần vào cuối phiên. Đó là tín hiệu sớm cho thấy có thể có các phiên phân phối trong tuần này. Giới quan sát đang chú ý tới ngày thứ ba, ngày 12.5, khi 120 triệu cổ phiếu được mua ở bốn phiên trước đó, sẽ về tài khoản của nhà đầu tư. Phân tích của FPTS chỉ ra, kênh giao động của VNindex trong tuần này ở mức 360 tới 390 điểm. Nhà phân tích định lượng Christopher Blank của HSC nghiêng về khả năng VNindex hướng tới mốc 400 điểm.
Update 1: Kết phúc phiên 11.5, VNIndex tăng 6,5 điểm, đứng ở mức 372,95 điểm. Lượng giao dịch trên 1.200 tỉ đồng. Sàn Hà Nội xuống nhẹ 0,59 điểm, đứng ở 130,64 điểm, với hơn 709 tỉ đồng giao dịch.
Khối đầu tư nước ngoài mua ròng 196 tỉ đồng.Chỉ báo kỹ thuật: Chứng khoán tăng, nhưng đà tăng đã giảm. Đường giá cũng vừa chạm đường MA 200. Khả năng có phiên điều chỉnh trong vài ba ngày tới. Do vậy, phiên ngày mai (12.5) có thể là 1 phiên xả hàng khi 120 triệu cổ phiếu đã về trong tài khoản.
Update 2: Phiên hôm qua và hôm nay (14.5) có thể được xem là phiên điều chỉnh, với khối lượng giao dịch khá cao (từ 1.500-1.600 tỉ). Ngày mai, khả năng VNindex chạm ngưỡng 366. Diễn biến của phiên sắp tới và đầu tuần sau sẽ phản ánh xu thế đi lên của VNindex còn tiếp tục hay không?
Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009
Dr Thanh và sự dấn thân
Ông Trần Quý Thanh, lãnh đạo của Tân Hiệp Phát, mang danh xưng tiến sĩ. Việc ông mang danh tính cá nhân gắn với sản phẩm, trên quan điểm học thuật về thương hiệu, thể hiện sự cam kết về chất lượng. Từ xưa, doanh nghiệp khi mới ra đời nên ít được người tiêu dùng biết đến. Do vậy, chủ doanh nghiệp thường ký tên mình vào sản phẩm như một lời cam kết về chất lượng. Michellin hay Dunlop là các ví dụ điển hình. Cho nên, hành động dám gắn danh tính người chủ với sản phẩm được xem như một sự dấn thân. Sau này, các doanh nghiệp lớn để tránh sự vô hồn, một phản ứng xã hội xảy ra sau vụ cháy xí nghiệp may ở đầu thập niên 10 của thế kỷ 20, mà trong đó, các cửa ra vào bị khóa chặt nhằm ngăn công nhân đi vệ sinh, thường chọn nhãn hiệu và thương hiệu mang tên người để tạo sự gần gũi. Dĩ nhiên, cái tên thôi không đủ, mà đòi hỏi chiến lược xây dựng thương hiệu vốn phức tạp và dài dòng, nên không thể đề cập ở đây.
Trở lại trà Dr Thanh, việc gắn tên là bình thường. Nhưng ở đây có sự lập lờ giữa ý nghĩa Dr. Một mang nghĩa tiến sĩ, một mang nghĩa bác sĩ. Ông Thanh tiến sĩ hoàn toàn khác với ông Thanh, bác sĩ. Nên Dr Thanh, xét cho cùng, là một cách làm không chính danh.
Trên nguyên tắc, Marketing là quản lý chuyện kể (story-telling management). Nghĩa là phải có chuyện và chuyện có sức thuyết phục người nghe/người dùng. Vậy sự không chính danh như trên, liệu có đủ để kể và thuyết phục người nghe?
Hơn nữa, sự mơ hồ trong công thức trà cung đình, mà đến nay, chưa thấy có dữ liệu xác thực ông vua triều nào, đời nào uống trà có 9 loại thảo mộc như trên. Vậy thì, ai cũng có thể có một công thức riêng về trà cung đình, không A thì Z, rồi còn đẻ ra vô số nhánh như A1,A2 tới An, đều được. Cho nên, quản lý một câu chuyện kể mà tính mơ hồ lồ lộ như vậy, xem ra là một việc rất khó.
Đã có vài ý kiến người dùng về sự khác biệt của loại trà trên. Trong đó, chủ yếu cho rằng nó chẳng khác gì nước sâm thường uống dọc đường. Hà cớ gì, phải trả giá cao hơn mức đó?
Bài viết này dựa trên quan điểm học thuật về quản trị, thương hiệu và marketing. Người viết hoàn toàn không có bất cứ liên hệ nào tới các đối thủ cạnh tranh hay doanh nghiệp có sản phẩm mang tính thay thế với sản phẩm được nêu trong bài.
Kích cầu nhầm chỗ
Sẽ không có gì bàn về việc hỗ trợ mua máy tính, nếu nó không thuộc giải pháp kích cầu. Bản chất của kích cầu, theo nguyên lý kinh tế, mang tính ngắn hạn. Tuy nhiên, không nên cố chấp để tranh luận 24 tháng hay bao nhiêu tháng là đủ.
Về bản chất, thúc đẩy tiêu thụ máy tính không giúp gì nhiều cho nền kinh tế. Hơn 10 năm qua, hàm lượng giá trị gia tăng trong công nghiệp máy tính Việt Nam ở mức độ 5%. Nói gọn, đó là nền công nghiệp tuốc-nơ-vít. Cho nên, kích cầu máy tính không mang lại nhiều lợi ích cho nhiều thành phần kinh tế, mà chỉ gói gọn trong số ít công nhân thuộc vài doanh nghiệp lắp ráp máy tính gọi là có tên tuổi ở Việt Nam. Được biết, khá nhiều doanh nghiệp trong nước, thậm chí, còn không nghe tới gói chính sách này. Nếu vậy, hình như đối tượng thủ lợi chính từ chính sách này, ngoài những nông dân đáng kính, còn có các đối tượng khác. Có lẽ, không cần phải nói thêm, ai là người hưởng lợi.
Theo số liệu của điện lực Việt Nam, có khoảng 10 triệu hộ nông dân sử dụng điện. Trên nguyên tắc, chính sách như vậy có thể tạo ra đơn hàng trị giá 5.000 tỉ đồng. Tất nhiên, không thể đạt được con số này, bởi trên thực tế, hỏi nông dân ở xã, cũng không biết tới chính sách như vậy. Về lý thuyết, nông dân hưởng lợi khi có máy tính, ít ra cũng có cái cho con họ học, làm quen với công nghệ thông tin. Nhưng để chiếc máy tính trở thành công cụ nâng cao dân trí, một mình chính sách hỗ trợ lãi suất là chưa đủ. Nếu nông dân mua máy tính, chỉ để cho con họ lên thành phố hay học tập, cũng cần thêm các chính sách lồng ghép khác.
Một vị chức sắc hội tin học TP.HCM cho rằng, không nên quá cực đoan khi đánh giá chính sách này như những gì phân tích ở trên. Dễ hiểu nguyên do phát biểu, các doanh nghiệp thành viên của hội là đối tượng có quyền lợi liên quan. Hơn nữa, nói như vậy cũng là một cách lý giải theo kiểu "lọt sàn, xuống nia". Tiếc rằng, ông này chỉ thấy cái ở trên sàn có vẻ to, chứ cái ở dưới nia còn to hơn nhiều. Hơn nữa, quan điểm này còn phải đặt trong trật tự xếp hàng của nhiều ngành khác. Mà nếu đứng trong trật tự đó, với hàm lượng giá trị gia tăng thấp như vậy, mức độ lan tỏa từ ảnh hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất vào ngành công nghệ thông tin, còn phải đứng sau nhiều ngành khác. Nói gọi, thứ tự ưu tiên cho ngành công nghệ thông tin không thể trong hàng tốp đầu.
Chính sách như trên, tốt, nếu không nằm trong nhóm chính sách mang tính tình thế như hiện nay.
Thứ Tư, 6 tháng 5, 2009
Lao động và cái ngọn của vấn đề
Có lẽ, vì quá tin vào lời giải thích của cơ quan quản lý, mà tác giả không định nghĩa được rằng: thế nào là một dịch vụ hoàn chỉnh. OCI Việt Nam chỉ được gọi là nhà cung cấp dịch vụ chiều gọi về Việt Nam khi có hệ thống thiết bị (thuê hoặc tự đầu tư), có kết nối hợp pháp với hệ thống tổng đài (PSTN). Trên thực tế, thanh tra sở đã kết luận là OCI Việt Nam không có đấu nối trực tiếp. Chính vì vậy, mà phó chánh thanh tra bộ thông tin và truyền thông mới mạnh miệng khẳng định chưa đủ bằng cớ.
Trở lại cái ngọn của vấn đề như tác giả bài viết đặt ra, liên minh viễn thông quốc tế mà Việt Nam là một thành viên, quy định rằng: cuộc gọi khởi phát từ đâu thì chịu sự chế tài của luật định nước đó. Do vậy, cuộc gọi từ 24 nước mà thẻ của OCI Việt Nam cung cấp dịch vụ, không chịu sự chi phối của luật Việt Nam. Đó mới thực sự là cái gốc của vấn đề. Khi hội nhập, không thể lấy luật của cái giếng để áp dụng cho cả bầu trời.
Dựa trên thông tin và kết luận của thanh tra sở, tôi không nghĩ rằng, OCI Việt Nam vi phạm luật. Bởi thật sự đúng như vậy, thì OCI Việt Nam sẽ bị xử lý hình sự theo tội danh "trộm cước viễn thông", chứ không bị xử phạt hết khung 20 triệu đồng.
Đọc lại các diễn tiến thông tin về vụ OCI trên Lao Động, tôi lấy làm lạ khi vụ việc có liên quan đến yếu tố pháp luật khá phức tạp, không có bất kỳ ý kiến luật sư nào. Tôi không nghĩ rằng, vụ việc này chỉ tiếp xúc với doanh nghiệp, chuyên gia viễn thông và cơ quan quản lý là đủ. Tôi hâm mộ Lao động từ lâu, thời kỳ ông Tống Văn Công và hàng loạt nhà báo danh tiếng tham gia. Tôi biết khi Chánh Trinh và Trần Trọng Thức mang ra Hà Nội để trao đổi nghiệp vụ là cuốn Ký giả chuyên nghiệp. Tiếc rằng, những bài học sơ đẳng nhất trong đó đã không được thể hiện qua bài báo này.
Tôi có gặp luật sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông cho rằng, có thể mô hình hóa dịch vụ điện thoại trên nền internet qua máy tính như một bộ máy tính (CPU, phần mềm) và thiết bị ngoại vi. Hội đủ các điều kiện này thì mới có thể kết luận là dịch vụ đầy đủ. Sự việc OCI Việt Nam, trong con mắt luật sư Bích, như chuyện kết luận con chuột-bàn phím vi phạm luật bản quyền. Trong khi phần mềm nằm trong CPU ở nước ngoài, mới là cái gốc của sự vi phạm.
Cái gốc của vấn đề, theo luật sư Bích, là doanh nghiệp được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Còn nhà nước chỉ được làm đúng những gì mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, cuộc sống thay đổi nên pháp luật có lúc không bắt kịp được yêu cầu của cuộc sống. Thông lệ quốc tế, trong trường hợp như vậy, viện dẫn pháp luật trên tinh thần có lợi cho người tiêu dùng, theo ông Bích.
Tiếc rằng, đó là thông lệ của quốc tế, không đúng với trường hợp này.
Ai tạo ra ngày của mẹ?
Là người Việt Nam, bạn sẽ dễ dàng liên tưởng đó là một sự kiện trong đời sống văn hóa phương Tây. Thôi thì ngày của mẹ, của cha, của ông, của bà, chưa kể các ngày đã và đang "đổ bộ" vào Việt Nam như lễ Tình nhân, Haloween, rồi sự kiện của một tôn giáo trở thành ngày lễ ở đô thị như Noel.
Vậy Dutch Lady liên quan gì đến ngày của mẹ mà tặng hoa? Chưa kể, doanh nghiệp sản xuất sữa này còn chạy chương trình PR trên hàng loạt báo như T.N, SGTT... Đường dây dẫn dắt cô gái Hà Lan quan tâm và "phổ cập hóa" ngày của mẹ cho người Việt Nam là gì? Trong khi phụ nữ Việt đã có ngày của riêng họ dù mang tên quốc tế phụ nữ, rồi ngày phụ nữ Việt Nam (20.10). Chưa kể tới mỗi gia đình sẽ tổ chức hoặc ít ra biết rằng trong gia đình họ có ngày sinh nhật của mẹ. Thậm chí, khi người mẹ ra đi, thì vẫn có ngày tưởng nhớ cúng giỗ.
Có lẽ, phải lần ngược về thế kỷ trước để tìm hiểu lịch sử hình thành các ngày này. Về niên đại hình thành, bạn sẽ thấy chúng có từ lâu đời. Vị thánh Valetine cách đây mấy trăm năm. Noel có từ xửa từ xưa ở các nước Bắc Âu, Hà Lan. Nhưng bạn có bao giờ đặt ra câu hỏi hai màu chủ đạo đỏ-trắng của ông già Noel nó giống với màu chủ đạo của hãng nước giải khát danh tiếng nào trên toàn cầu? Ngày lễ tình nhân chỉ thật sự sôi động sau thế chiến thứ hai. Sự kiện ấy đã gieo hạt ươm mầm nhu cầu của một đời sống gia đình trên mảnh đất hoang hóa lâu ngày bởi chiến tranh. Dĩ nhiên, các công ty sản xuất chocolate, dịch vụ tặng hoa, bưu thiếp hưởng lợi từ sự kiện này. Thế rồi, doanh nghiệp ngành khác cũng phải lục tìm trong biên niên sử các sự kiện mà trong thời điểm tìm kiếm có thể sử dụng để khơi dậy hay đáp ứng đúng tâm thế/nhu cầu của một xã hội. Các doanh nghiệp tư bản đã sử dụng sự kiện theo cách kinh tế nhất cho mình. Cao hơn, họ còn làm cho ông già Noel mang màu sắc của chính doanh nghiệp họ.
Ở Việt Nam, lễ tình nhân mới du nhập vào từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Từ một sự kiện nhỏ trong cộng đồng học tiếng Anh, và đặc điểm của cộng đồng này trong thời kỳ đó, là trẻ, đang hướng vọng về tri thức toàn cầu, lễ tình nhân đã trở nên phổ biến dựa vào các hạt nhân cơ bản đó. Đáng tiếc, sự kiện này chỉ được doanh nghiệp phân phối và bán lẻ khai thác theo lối tự nhiên, nghĩa là không có nhiều đầu tư để nó mang hương sắc Việt. Haloween không trở thành một sự kiện phổ biến vì nó mang dáng vẻ trò vui, giải phóng một phần năng lượng sung mãn của tuổi thanh niên, hơn là mang lại ý nghĩa riêng nào đó, hay khơi dậy ở họ những giá trị tinh thần nào khác.
Trong bối cảnh đó, phải thêm ít nhất 5 lần nhận hoa của Dutch Lady nữa, may ra, mới giật mình: sắp tới ngày của mẹ rồi, sẽ mua quà gì đây? Và trong lần giật mình ấy, biết đâu lại nghĩ tới lát mứt gừng ấm áp hay lạng chè xanh cho mẹ hơn là lon sữa giàu calcium chống loãng xương.
Công bằng mà nhìn nhận rằng, doanh nghiệp nước ngoài luôn đi đầu trong việc tạo ra các trào lưu tiêu dùng. Làm được như vậy không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp có năng lực sản xuất, sáng tạo trong mẫu mã, đổi mới công nghệ, mà còn phải đủ khả năng dẫn dắt thị trường.
Gần đây, nhiều người nhắc nhiều đến chiến lược đại dương xanh. Nhưng thực chất, nếu bạn đọc Michael Porter, Peter Drucker và Philips Kotler, bạn sẽ thấy đại dương xanh thực ra chỉ là đi tìm sự khác biệt. Đạo tối thượng trong kinh doanh, như thầy tôi, giáo sư tiến sĩ Tôn Thất Nguyễn Thiêm chỉ ra: doanh nghiệp tự tạo ra cho mình một xã hội để phục vụ. Làm được như vậy, thì ai có thể phục vụ cộng đồng tiêu dùng đó tốt hơn doanh nghiệp sáng lập ra xã hội đó. Lúc đó làm gì có doanh nghiệp nào có thể vào đó mà cạnh tranh. Há chẳng phải là đại dương xanh đó ư? Chiêu thức có thể được gọi dưới nhiều tên khác nhau, nhưng mục đích chỉ có một.
Thứ Hai, 4 tháng 5, 2009
Diễn tiến vụ OCI: Sở mời thanh tra bộ làm việc

