Thứ Hai, 16 tháng 11, 2009

Thị trường chứng khoán: Rủi ro từ các siêu liên kết

Điều gì khiến một cổ phiếu có kết quả kinh doanh ổn định, lại tăng trần hàng chục phiên? Kết quả kinh doanh không nhiều ấn tượng, như phân tích của một công ty chứng khoán, không chỉ giúp thị giá doanh nghiệp này tăng nhanh mà còn có thể làm thay đổi kết quả kinh doanh của các công ty khác.
Sau 31 phiên tăng điểm, trong đó có 28 phiên tăng kịch trần kể từ ngày 7.9, thị giá cổ phiếu của công ty cổ phần Sông Đà 9.06 đã tăng gần tám lần. Mức giá cao nhất ngày 20.10 là 135 ngàn đồng mỗi cổ phiếu. Chuỗi tăng quá ấn tượng như vậy dù “kết quả kinh doanh không có nhiều ấn tượng” như nhận xét của nhóm phân tích công ty chứng khoán An Bình buộc công ty phải giải trình với sàn Hà Nội là do hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định cũng như sức hấp dẫn của việc phát hành thêm cổ phiếu bằng mệnh giá cho cổ đông để tăng vốn từ 25 tỉ đồng lên 100 tỉ đồng.
Giải mã cổ phiếu tăng nóng
Điều gì khiến các nhà đầu tư kỳ vọng đến mức bỏ tiền mua một công ty mà kết quả sản xuất kinh doanh, dù công ty giải thích là ổn định, chỉ mới đẹp lên trong quý ba. Theo báo cáo kết quả kinh doanh quý 2, đơn vị này đạt lợi nhuận sau thuế là 986 triệu đồng. Lũy kế lợi nhuận sau thuế nửa năm 2009 là 1,45 tỉ đồng trên tổng vốn điều lệ 25 tỉ đồng.
Nếu đọc báo cáo kết quả kinh doanh quý 3 thì khó có thể đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định như giải trình của lãnh đạo Sông Đà 9.06. Doanh thu quý 3 đạt 3,241 tỉ đồng, chỉ bằng 25% doanh thu của quý trước. Tuy doanh thu giảm, nhưng lợi nhuận sau thuế lại tăng chủ yếu do doanh thu tài chính mang lại. Trong quý 3, công ty trực thuộc tổng công ty Sông Đà này có doanh thu tài chính lên tới 4,112 tỉ đồng, tăng gấp tám lần con số tương ứng của quý 2. Nhờ vậy, tổng lợi nhuận sau thuế của ba quý đạt 5,537 tỉ đồng.
Theo thông tin do sở giao dịch chứng khoán Hà Nội công bố, Sông Đà 9.06 đăng ký bán 157 ngàn cổ phiếu của công ty Sông Đà 9, công ty mẹ của Sông Đà 9.06, trong khoảng thời gian từ 20.8 tới 30.8. Với mức giá thấp nhất trong giai đoạn này, thì đơn vị này cũng thu về hơn bốn tỉ đồng. Điều này có thể lý giải lợi nhuận đột biến của Sông Đà 9.06 là từ bán cổ phần của công ty Sông Đà 9.
Sông Đà 9.01 (mã S91), một công ty con của Sông Đà 9, cũng đăng ký bán hơn 250 ngàn cổ phiếu của công ty mẹ trong quý 4. Đáng chú ý, là tổng lợi nhuận sau thuế trong ba quý gần đây của công ty Sông Đà 9.01 là 1,6 tỉ đồng, trong đó có 1,4 tỉ đồng từ thu nhập bất thường, mà theo một kế toán có thâm niên, khoảng này có thể đến từ thanh lý tài sản. Việc bán cổ phiếu công ty mẹ thực hiện từ cuối tháng 9, nếu thành công, sẽ giúp công ty con có trụ sở ở Pleiku này có kết quả kinh doanh khả quan hơn trong quý 4. S91 cũng có chuỗi tăng giá ấn tượng bắt đầu từ ngày 8.9 kéo dài tới ngày 19.10, khiến thị giá cổ phiếu đã tăng 4,5 lần.
Sau khi các công ty con thu lợi nhuận từ bán cổ phiếu, Sông Đà 9 cho biết, họ sẽ bán cổ phiếu từ các công ty con kể trên trong thời gian tới. Theo phân tích của stockbiz, một website chuyên về chứng khoán, Sông Đà 9 đã lãi khoảng 40 tỉ đồng từ việc bán 500 ngàn cổ phiếu của S96.
Những siêu liên kết
Hiện tượng sở hữu chéo trong các tập đoàn như kiểu Sông Đà 9 và các công ty con Sông Đà 9.06 hay Sông Đà 9.01 không phải là hiếm. Trên sàn TP. Hồ Chí Minh, có mối tay ba giữa công ty đầu tư hạ tầng kỹ thuật TP.HCM (CII), cơ khí Lữ Gia (LGC) và công ty cổ phần Năm Bảy Bảy (NBB). Theo công bố của CII, đến đầu tháng 6 năm nay, đơn vị này nắm giữ hơn 750 ngàn cổ phiếu của NBB và 2,9 triệu cổ phiếu của LGC. Thời điểm này đầu tư Năm Bảy Bảy (NBB) sở hữu 20.000cp của CTCP Đầu tư hạ tầng kỹ thuật TPHCM (CII).
Từ ngày 12.3, sau 15 phiên kể từ khi Năm Bảy Bảy lên sàn, CII đã thực hiện mua thêm 180 ngàn cổ phiếu của đơn vị này. Trong giai đoạn từ 3.4 tới 15.5, CII mua thêm 200 ngàn cổ phiếu và sau đó đăng ký bán ra 500 ngàn cổ phiếu của Năm Bảy Bảy. Các hoạt động mua bán như vậy giúp CII thu không ít lợi nhuận, bởi giá Năm Bảy Bảy vào ngày 12.3 chỉ có 22.500 đồng một cổ phiếu. Theo công bố của CII, hơn 700 ngàn cổ phiếu Năm Bảy Bảy mà họ đang nắm giữ, có giá vốn khoảng 30 ngàn đồng, trong lúc giá đóng cửa ngày 11.11 của công ty này là 73.500 đồng.
Không chỉ thu lợi trực tiếp, CII còn thu lợi gián tiếp qua vụ đầu tư của công ty con là công ty xây dựng cầu đường Bình Triệu cũng vào NBB. Trong bốn đợt mua vào kể từ tháng 8 tới đầu tháng 10, công ty có vốn điều lệ 300 tỉ đồng này đã nâng số cổ phiếu NBB mà mình nắm giữ lên hơn một triệu, để sau đó bán sạch. Do không có số liệu về 733 ngàn cổ phiếu NBB mà cầu đường Bình Triệu nắm giữ trước khi lên sàn, nên không rõ giá vốn để tính lợi nhuận. Chỉ riêng các khoảng mua bán sau ngày NBB lên sàn, phải công bố thông tin theo quy định, cầu đường Bình Triệu lời ít nhất là 3,5 tỉ đồng. Con số này dựa trên tính toán của người viết về giá trung bình mua vào và bán ra theo thông tin công bố.
Theo CII, đơn vị này sẽ bán các cổ phiếu đang nắm giữ trong ba năm tới. Khoản đầu tư này có thể làm cổ đông CII hài lòng nếu thị trường tiếp tục tăng điểm. Tuy nhiên về mặt quản trị rủi ro, khi thị trường cũng giảm, chỉ cần một mắt xích bị thua lỗ khiến cho thị giá giảm thấp hơn giá gốc mà các công ty trong chuỗi liên kết nắm giữ, các công ty này buộc phải trích lập dự phòng rủi ro giảm giá theo luật định. Trường hợp công ty đầu tư tài chính quá nhiều, các khoản trích lập dự phòng có khi còn lấy đi nguồn lợi nhuận mà họ vất vả lắm mới kiếm được. Thị trường đã chứng kiến cơ điện lạnh (REE) chịu lỗ trong năm 2008 dù hoạt động kinh doanh chính của họ vẫn có lời.
Do luật định của Việt Nam không cấm việc sở hữu chéo, nên việc hình thành các siêu liên kết như trên không vi phạm luật. Tuy nhiên, khi đồng vốn đi lòng vòng như vậy, thì một đồng lợi nhuận được tính thành nhiều đồng, bởi lợi nhuận của con, hay của đối tác, rồi cũng tính cho lợi nhuận của công ty mẹ và đối tác khác. Phép nhân ảo đó khiến cho các bản báo cáo kết quả kinh doanh hết sức hấp dẫn nhà đầu tư nhưng ẩn chứa không ít rủi ro.
Năm 2001, khi được hỏi về sự thất bại của các chaebol bốn năm trước, một học viên cao học của đại học Yonsei (Hàn Quốc) đã ví các tập đoàn như các soái hạm của Tào Tháo trên sông Xích Bích khi trả lòi: “Bình thường liên kết như vậy tạo thành một nguồn lực rất mạnh nhưng chỉ cần một chiếc bị đốt cháy, những chiếc khác khó an toàn”.

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Vãn tuồng vàng

Vở tuồng giá vàng leo thang đã hạ màn chiều 11.11 sau khi thống đốc ngân hàng nhà nước chấp thuận cho các tổ chức trong nước được nhập khẩu vàng. Quyết định này được đưa ra sau cao trào giá vàng lên mức 29,2 triệu đồng mỗi lượng vàng SJC, có nơi lên tới 29,5 triệu đồng.
Sau khi nút thắt cấm nhập khẩu vàng được cởi bỏ, giá vàng lập tức hạ nhiệt vào cuối giờ chiều hôm kia, ở mức 27,8 triệu đồng mỗi lượng. Diễn biến sóng vàng hôm thứ tư vừa rồi khiến không ít người lỡ mua ở đỉnh sóng phải cắn răng bán lại, chịu lỗ hoặc tự an ủi rằng vàng sẽ lên giá vào một thời điểm nào đó chưa rõ. ‘
Bạn đồng hành với vàng trong tiến trình leo thang vừa qua, là giá USD trên thị trường tự do. Một ngày trước khi có cao trào vàng, người ta chỉ mất chưa tới 19 ngàn đồng để có một USD. Thì trong ngày 11.11, đầu ngày họ phải trả tới 19,2 ngàn đông và đỉnh điểm lúc 11 giờ trưa là 19,8 ngàn đồng.
Theo thống đốc Nguyễn Văn Giàu, bàn tay đầu cơ đã đẩy giá vàng thoát khỏi lực chi phối của quy luật cung cầu. Quyết định của người chịu trách nhiệm về chính sách tiền tệ được đưa ra trong bối cảnh chính sách này phải bảo đảm mục tiêu ổn định vĩ mô và kiềm chế lạm phát, theo phân tích của tiến sĩ Trần Hoàng Ngân. Thành viên của hội đồng tư vấn chính sách tiền tệ này cho rằng, mục đích chính của việc cho phép nhập khẩu vàng chủ yếu là ổn định tâm lý người dân thông qua khả năng bảo đảm nguồn cung vàng. “Lượng nhập khẩu vàng sẽ không nhiều do Việt Nam đã nhập khẩu khá nhiều vàng trong những năm qua” – ông Ngân nói. Theo ông Giàu, trong ba năm qua, Việt Nam đã nhập 233 tấn vàng nhưng mới tái xuất 38 tấn trong năm ngoái và đầu năm nay.
Số lượng vàng mà tổ chức và cá nhân trong nước nhiều khả năng vượt quá 200 tấn vàng mới nhập khẩu của ba năm gần đây. Theo giới phân tích, nếu không nắm giữ một lượng lớn nhất định, khó lòng có thể tạo cơn sốt giá. Trong năm tháng trở lại đây, có nhiều ý kiến đề nghị cho nhập khẩu vàng. Tuy việc xuất hay nhập vàng không ảnh hưởng tới tình trạng nhập siêu hay xuất siêu, nhưng việc cho nhập khẩu vàng, đồng nghĩa với việc nguồn cung USD trên hệ thống sẽ giảm. Đây cũng là mấu chốt khiến Việt Nam không cho nhập vàng từ tháng 5.2008. Cũng từ đây, giá vàng trong nước có cơ sở để tăng giá quá mức. Ở lúc đỉnh điểm, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới trên 3,6 triệu đồng.
Theo ước tính của ngân hàng thế giới công bố tháng 11.2009, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đủ cho ba tháng rưỡi nhập khẩu. Trong khi báo cáo của thủ tướng tại Quốc hội hồi tháng 10 là 12 tuần nhập khẩu. Số liệu của ngân hàng phát triển châu Á công bố hồi tháng 7 vừa qua, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam dưới 18 tỉ USD, giảm hơn 1/5 so với cuối năm trước. Theo số liệu xuất nhập khẩu 10 tháng, trung bình mỗi tuần, Việt Nam nhập siêu 743 triệu USD. Như vậy, về mặt lý thuyết, doanh nghiệp sẽ phải mua thêm 148 triệu USD mỗi ngày để thanh toán hợp đồng xuất khẩu. Và khoản thiếu hụt ngoại tệ này sẽ được lấy từ nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài, các khoản vay nước ngoài và kiều hối. Trong lúc kinh tế toàn cầu mới có dấu hiệu hồi phục, các nguồn cung ứng ngoại tệ kể trên nhiều khả năng sẽ sụt giảm đáng kể. Theo ông Giàu, kiều hối năm nay ở mức 6,2 tỉ USD, giảm hơn 10% so với năm trước.
Việc thực thi chính sách tiền tệ linh hoạt như hiện nay, theo tiến sĩ Trần Hoàng Ngân, tránh tình trạng lạm phát kép khi giá hàng hóa thế giới tăng trở lại và hạn chế nhập siêu, cũng như một phần trợ giúp doanh nghiệp xuất khẩu. Dù ngân hàng nhà nước đã nới biên độ tỉ giá lên 5%, cũng như cuối tuần trước điều chỉnh tỉ giá liên ngân hàng lên mức 17.010 đồng cho mỗi USD, thì thực tế, doanh nghiệp vẫn khó mua USD. Thị trường khó vận hành thông suốt nếu doanh nghiệp không tìm được nguồn mua USD trôi nổi, với giá cao hơn. Đây cũng là cơ sở để việc đầu cơ vàng vừa qua thành công. Tương ứng với giá vàng đầu ngày 11 ở mức trên 27 triệu đồng, tương đương với giá trị mỗi USD khoảng 20.144 đồng. Lúc này, giá USD trên thị trường là 19.100 đồng.
Theo ông Ngân, giá USD hợp lý sẽ xoay quanh mức 18.000 đồng. Mức điều chỉnh này có thể sát hơn với mong muốn của những người đang nắm giữ USD. Nhưng với người điều hành chính sách tiền tệ như ông Giàu, việc tiền đồng giảm giá khiến cho ngân sách nhà nước phải gánh thêm nợ. Tại cuộc hội thảo bàn về giải pháp chống khủng hoảng kinh tế tổ chức tại Đà Lạt trong tháng 9 vừa qua, ông Giàu phân tích rằng, nếu tiền đồng mất giá thêm 5%, thì ngân sách phải gánh thêm 26 ngàn tỉ đồng mỗi năm.
Một ngày sau khi vàng đạt đỉnh, thị trường vàng trở lại giao dịch bình thường, không còn cảnh chen nhau mua vàng. Ông Trang Quang Sanh, một chuyên gia ngân hàng lâu năm, cho rằng, phí tổn để giữ ổn định cho thị trường vàng có tác động tới thị trường ngoại tệ. Với người mua USD trong ngày 11.11, mức giá xấp xỉ 20 ngàn đồng cho mỗi USD xem ra quá cao. Nhưng với nhà đầu tư nước ngoài, ngưỡng này không phải là mới. Cuối tháng 10, họ đã phải mua bảo hiểm rủi ro tỉ giá qua hợp đồng kỳ hạn 12 tháng, với giá 19.500 đồng mỗi USD. Thị trường, dẫu sao, cũng vừa chứng kiến tuồng vàng đã vãn. Liệu có còn tuồng mới?

(Một bản ngắn hơn đăng ở Sài Gòn Tiếp Thị ra ngày 12.11.2009)

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Tái cơ cấu kinh tế nhìn từ thủ tục hành chính

“Chúng tôi phải mất 24 tháng một ngày mới được cấp phép đầu tư. Vậy làm sao đơn giản thủ tục đầu tư hơn nữa?”, chủ đầu tư một dự án bất động sản du lịch rộng 300 ha vào Cát Bà hỏi tại diễn đàn thảo luận về cơ hội đầu tư bất động sản ngày 21.10 tại TP. Hồ Chí Minh.
Không có câu trả lời cụ thể cho nhà đầu tư trong nước này. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh hy vọng trong tương lai sẽ có lời giải khi thực hiện đề án của Chính phủ nhằm giảm 30% thủ tục hành chính.
Trước lời giải đáp mang tính nguyên tắc của nguyên viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương, ông Trần Xuân Giá thổ lộ, có lúc ông cũng bi quan về khả năng cải cách thủ tục hành chính trong tám năm có chân trong ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. Hiện có chân trong hội đồng quản trị của một ngân hàng thương mại cổ phần, ông Giá chia sẻ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước: “Vô số cái trong thủ tục hành chính hiện nay cũng hành tôi không kém gì anh”. Cựu bộ trưởng Kế hoạch và đầu tư xác nhận, một loạt cơ chế tưởng chừng dễ làm, làm nhanh được, mang lại hiệu quả thiết thực, thí dụ bắt đầu từ cải cách thủ tục hành chính, thế mà 15 năm rồi vẫn dẫm chân tại chỗ, cắt bớt thủ tục này mọc ra thủ tục khác.
Thủ tục hành chính rườm rà chỉ là một phần khiến cho môi trường kinh doanh chưa thật sự bình đẳng, thông thoáng, theo đánh giá của ông Giá. Trong suy nghĩ của ông, ba vấn đề trở thành các điểm tắc nghẽn lớn đối với phát triển là thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng yếu kém. Vì vậy, trong báo cáo dự báo kinh tế Việt Nam 2010 trình bày tại diễn đàn về bất động sản, ông Trần Xuân Giá nhấn mạnh đến việc khắc phục những mặt yếu cơ bản của nền kinh tế để có dư địa cho tăng trưởng và phát triển. Trong đó, cơ bản nhất là chất lượng tăng trưởng.
Phân tích đóng góp của vốn, lao động và năng suất tổng hợp vào tăng trưởng GDP trong giai đoạn từ 1993 tới nay, tiến sĩ Trần Xuân Giá chỉ ra, tăng trưởng kinh tế vẫn trong tình trạng chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư. Ông Giá đưa ra con số tính toán, yếu tố vốn góp vào tăng trưởng là 52,7%, gấp gần ba lần đóng góp của nhân tố lao động. Theo kinh nghiệm của người từng đứng đầu bộ Kế hoạch và đầu tư, tỷ lệ vốn đầu tư khó vượt qua con số 44% GDP và không thể kéo dài mãi tình trạng này. Ông Giá cũng cảnh báo về yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế còn thấp và tăng chậm. Đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp dừng ở mức 28,2% trong giai đoạn từ 2003 tới nay. Dù tỉ lệ này đã tăng từ mức 22,5% của giai đoạn 1998-2002, nó vẫn thấp hơn mức 35-40% của các nước trong khu vực.
Xét về năng suất lao động, trong giai đoạn 2000-2002, mỗi lao động của Việt Nam đạt 813 USD một người, trong khi đó lao động của Indonesia đạt năng suất cao hơn 2,18 lần, Philippines cao hơn 2,88 lần, Thái Lan cao hơn 4,39 lần. Giai đoạn 2006-2007, năng suât lao động của Việt Nam tăng lên 1.459 USD, thì của Indonesia gấp 2,51 lần, Philippines gấp 2,4 lần và Thái Lan gấp 4,24 lần. Điều này một phần phản ánh chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, với khoảng 60% lao động chưa qua đào tạo, một phần phụ thuộc vào trình độ công nghệ. Để tạo ra một đôla GDP, Việt Nam tốn lượng điện năng bằng 4,65 lần Hồng Kông, 3,12 lần Singapore, 1,37 lần Thái Lan và 1,69 lần Malaysia.
Đầu tư nhiều như vậy nhưng chất lượng tăng trưỏng thấp, thông qua chỉ số kinh tế tri thức theo đánh giá của Ngân hàng thế giới. Năm 2008, Việt Nam xếp thứ 102 trong tổng số 133 nước được xếp loại. Ông Giá cũng lưu ý về chỉ số đánh giá hiệu quả đầu tư thuộc loại kém và hầu như không có chuyển biến trong giai đoạn 2001-2008.
Cho dù đầu tư nhà nước tập trung nhiều vào công nghiệp-xây dựng, nhưng kết cấu hạ tầng vẫn còn lạc hậu khá xa so với yêu cầu và đang cản trở sự phát triển. Trong cơ cấu kinh tế, tuy tỷ trọng khu vực công nghiệp-xây dựng bình quân mỗi năm tăng khoảng 0,2 điểm phần trăm trong giai đoạn 2001-2008 nhưng tỷ trọng khu vực dịch vụ giảm khoảng 0,06 điểm phần trăm, khiến cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo ba khu vực công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp chưa đạt được cơ cấu của một nước kinh tế đang phát triển thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp.
Phân tích những nút thắt tăng trưởng, tiến sĩ Trần Xuân Giá cho rằng, phải xử lý song song các giải pháp nhằm giải quyết hậu quả trước mắt của suy giảm kinh tế và cấu trúc lại nền kinh tế. Ông Giá nhấn mạnh đến việc thay đổi tư duy và mô hình tăng trưởng bằng lời cảnh báo: “Chúng ta không thể tiếp tục tư duy tăng trưởng theo lượng, khuếch đại, sùng bái con số và che đậy khuyết điểm của nền kinh tế được nữa”.
Ba nút thắt được ông Giá nêu ra, có thể, sẽ được giải quyết trong đề án tái cơ cấu kinh tế. Tiến sĩ Võ Trí Thành, người có chân trong nhóm nghiên cứu đề án này, cho biết, một điểm mới trong đề án là có kèm các giải pháp thực hiện. Về điểm này, ông Giá vẫn băn khoăn về con người thực thi. Lấy lại trường hợp nhà đầu tư du lịch ở Cát Bà, ông Giá giả định quy định sau 30 ngày là cấp giấy phép nhưng có thể tới ngày 29 người ta mới thông báo hồ sơ chưa hợp lệ. Nhìn lại quá trình thực thi cải cách thủ tục hành chính, ông Giá nói: “Có khi không có vướng mắc về thủ tục pháp lý mà do con người cụ thể”.
Quốc Khánh

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2009

Kích cầu (1)

Xung quanh gói kích cầu của chính phủ, có nhiều ý kiến đánh giá, tranh luận xung quanh con số 20% doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn này hay hơn nữa.
Trước khi thông qua đề xuất gói kích cầu tiếp theo, theo một số ý kiến tập trung hơn vào doanh nghiệp một số ngành và lĩnh vực có hệ số lan tỏa cao, các đại biểu Quốc hội đều tán thành có đánh giá về gói kích cầu số 1. Tuy nhiên, thanh tra gói kích cầu này, có thể sẽ tạm hoãn tới 2010.
Gần đây, có thông tin trái chiều về thực hiện gói kích cầu. Một số cho rằng, chưa tìm được sai phạm trong gói này, có tin phát hiện gần 3.900 vụ sai phạm. Đọc kỹ, cả hai thông tin đều từ cuộc gặp với thống đốc ngân hàng .
Thông tin trái chiều như vậy, trách gì thị trường chứng khoán không nhạy cảm, chỉ cần tin đồn là đổ dốc.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

Thiềm thừ và niềm tin

13 ngàn người làm việc trong ngân hàng đầu tư và phát triển (BIDV) được vận động đóng góp tổng số tiền 3,25 tỉ đồng để mua tượng gỗ Thiềm Thừ trang trí cho tòa tháp mới xây dựng của ngân hàng quốc doanh này. Cho dù ông Trần Bắc Hà, chủ tịch hội đồng quản trị BIDV khi trả lời báo Người lao động, rằng con cóc vàng ba chân bằng gỗ là vật trang trí, thì trong công văn của công đoàn kêu gọi nhân viên góp tiền ghi rõ, mỗi cán bộ công nhân viên đóng góp 250 ngàn đồng để mua vật linh thiêng này.
Kết quả tìm kiếm trên google về linh vật và thiềm thừ, có 102 ngàn kết quả, trong đó loài yêu quái cóc ba chân trong huyền thoại sau khi cải tà quy chính, có khả năng nhả tiền giúp người nghèo khó khắp nơi, nên được gọi là Linh thú vương tài. Một số website chuyên về phong thủy, còn hướng dẫn rõ hơn, chẳng hạn ban đêm phải quay vị trí con cóc vào trong thế nào. Sơ lược vậy cũng đủ thấy những gì mà người mua gửi gắm niềm tin vào linh vật cóc ba chân này.
Việc mua cóc gỗ ba chân bày trong một tòa tháp hiện đại mới xây dựng chắc cũng không trở thành lớn chuyện nếu không có việc huy động người lao động đóng góp. Trên thực tế, giới kinh doanh phần lớn đều tin và tránh các điều kiêng kỵ hay tuân thủ các nghi thức cúng, bái, lễ, ít nhất trên tinh thần Có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành. Bên cạnh các lớp học bồi dưỡng về quản trị, kỹ năng lãnh đạo, giới doanh nhân còn được mời mọc học về phong thủy, tâm linh. Ngay cả tổ chức quy tụ doanh nghiệp của cả nước như phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cũng đứng ra chiêu sinh khóa học hai ngày về ứng dụng khoa học tâm linh trong quản trị doanh nghiệp do một thạc sĩ ở học viện hành chính quốc gia giảng dạy hồi cuối tháng 5 vừa qua.
Đã có lúc, tưởng rằng các thành tựu công nghệ ứng dụng trong đời sống ở Việt Nam có khả năng đánh bạt đi dưỡng chất là tính bất định cao, môi trường hình thành và nuôi dưỡng cho các hủ tục mê tín. Hiện nay, mỗi năm, người Việt đốt giấy vàng mã trị giá hàng triệu USD. Trên thị trường, ngoài thiềm thừ, còn có vật linh khác là kỳ hưu đang được bày bán từ siêu thị, nhà sách tới các cửa hàng đá quý, với giá dao động từ vài chục ngàn cho tới vài tỉ đồng, tùy chất liệu. Cuối năm, giới làm ăn tụ tập về đền bà chúa Kho để trả nợ vay hồi đầu năm, mà trong đó, có cả xe hơi mang biển số xanh của nhà nước. Nếu như người dân đang phải đối mặt với nhiều bất trắc, từ thiên tai, lũ lụt cho tới các tai nạn đô thị như rò điện cột đèn mà cơ chế xác định trách nhiệm vẫn chưa đủ bảo đảm ngăn ngừa hiểm họa trong tương lai, thì giới kinh doanh đang hoạt động trong môi trường mà hai đồng chính thức lưu hành trong hệ thống kinh tế quốc dân, cõng theo một đồng ở ngoài sổ sách, theo nghiên cứu của Soyan Tenev thực hiện năm 2003 do IFC tài trợ. Trong môi trường có tính bất định cao, tất yếu, niềm tin gửi gắm vào linh vật hay một dạng hợp đồng bảo hiểm tinh thần nào đó sẽ có đất để phát triển.
Một lời giải thích khác của giới phong thủy về thiềm thừ là giống cóc ba chân này chỉ ăn nhưng không bài tiết. Nghĩa chung của việc chọn thiềm thừ, cũng như câu cửa miệng thường gặp dịp Tết: “Tiền vào như nước sông Đà. Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin”. Từ một vật linh có khả năng nhả tiền giúp kẻ khó đến một hình ảnh vô nhiều, ra ít, phần nào mang hơi hướm thực dụng, phản ánh tâm lý tận dụng mọi cơ hội để kiếm tiền nhanh. Môi trường đó ươm mầm và dung dưỡng cho các ý tưởng làm giàu bằng mọi giá. Vì thế, mới có câu biện hộ từ lãnh đạo các tập đoàn, các tổng công ty của nhà nước khi bị chất vấn lý do đầu tư trái ngành là để “lấy ngắn, nuôi dài”. Chỉ khi kinh tế toàn cầu khủng hoảng, thị trường chứng khoán và bất động sản suy giảm, các doanh nghiệp này mới quay về kinh doanh cốt lõi, rút vốn khỏi ngân hàng, khỏi bảo hiểm.
Hiện tại, các chuyên gia kinh tế đang bàn thảo đề án tái cơ cấu nền kinh tế. Xét về quản trị chiến lược, bước đi đầu tiên từ tầm nhìn rồi mới có các mục tiêu chiến lược để có cơ cấu tổ chức thực thi hiệu quả. Đường đi đã rõ và vật cản cũng khá nhiều, trong đó có cả niềm tin đang gửi gắm vào kỳ vọng quá ngắn.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2009

Giải cứu cấp tướng

Bộ phim được giải Oscar có tên Giải cứu binh nhì Ryan miêu tả lại cuộc tìm kiếm chàng binh nhì Ryan để mang chàng về nhà an toàn cho bà mẹ, người đã có các người con vừa chết trận trong thế chiến thứ hai. Lúc đó, chàng binh nhì này đang cùng đồng đội đổ bộ lên vùng Normandy, chiến dịch mở mặt trận thứ hai, ngoài Nga, của quân Đồng Minh, tạo sức ép lên quân đội Đức quốc xã.
Nói theo ngôn ngữ thường đọc thấy trong Tam Quốc Chí, là năm đồng minh thứ a,b,c, tức năm 1944 theo Dương Lịch, binh nhì Ryan đã được giải cứu sau khi liên quân đưa tinh binh lên vùng Normandy.
65 năm sau, khi Max Movie ở truyền hình cáp Việt Nam, thay phiên chiếu bộ phim Band of Brothers kể về cuộc đổ bộ này, thì có một cuộc giải cứu khác khá ngoạn mục. Số là, giới chiêm tinh gia nhìn sao, đoán rằng: Hải đoàn sẽ gặp nạn lớn trong năm 2010 khi nhiều nước số lượng cung cấp hải thuyền sẽ vượt quá nhu cầu. Điều này khiến cho ý tưởng xây dựng hải đoàn đủ sức vượt biển lớn sẽ gặp khó khăn, dù đã đầu tư hàng ngàn tỉ đồng, chưa kể số vay nợ nước ngoài lên tới 700 triệu Mỹ kim. Đúng lúc mọi dự đoán sắp trở thành hiện thực, bởi giá hải thuyền trong năm 2009 đã giảm rất nhiều, thì hải đoàn được chấp thuận cho phép đóng 40 chiếc hải thuyền mới. Không rõ trọng tải nên khó ước tính được tổng giá trị. Nếu lấy cỡ 6.800 tấn một chiếc, thì trị giá hợp đồng này khoảng 8.000 tỉ, còn cỡ lớn hơn (thường thì 12.500 tấn), thì giá trị ngót nghét một tỉ Mỹ kim. Nghe đâu, giới chiêm tinh bắt đầu phải quan sát chuyển vận tinh tú, để tìm lời giải phụ.

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Người giàu Ấn Độ: Thích phim hơn tạp chí


Nielsen vừa công bố kết quả nghiên cứu hành vi của nhóm nhà giàu Ấn Độ, mà tổ chức này gọi là Nielsen Upper Middle and Rich (UMAR). Hai yêu cầu chính của cuộc nghiên cứu là hình dung rõ hơn về nhóm nhà giàu và thói quen tiêu dùng. Số mẫu là 18.250 cá nhân ở 35 khu vực, tập trung điều tra vào lối sống, mức độ sở hữu các vật dụng lâu bền (durable goods) đối chiếu với thu nhập hàng tháng và trình độ học vấn. Một số yêu cầu chi tiết về sử dụng nhân công trong nhà (phụ việc, lái xe, giữ trẻ), du lịch, ăn ngoài, sở hữu xe hơi loại gì, máy tính, đường truyền internet...

Nghiên cứu chỉ ra, Ấn Độ có khoảng 2,5 triệu hộ thuộc diện có của ăn, của để. 220.000 thuộc nhóm trên của tầng lớp trung lưu và 100.000 thuộc diện giàu có. Ba nơi tập trung dân giàu, xếp theo mật độ, lần lượt là Delhi, Bangalore và Greater Mumbai.

Một vài nhận xét đáng chú ý: Hầu hết ở nhà nói tiếng Hindu, xem phim nói tiếng Hindu, nhưng 75% thích đọc báo tiếng Anh. Dù thích đi xem phim ở ngoài, nhưng có tới 60% không đọc tạp chí.

Dù khủng hoảng không ảnh hưởng nhiều tới chuyện mua sắm, nhưng có hai lĩnh vực được ưu tiên cắt giảm là du lịch nước ngoài và vật dụng đắt tiền.

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

Rẻ như nhà ở Mỹ

Số liệu của tiến sĩ Mark J. Perry, giáo sư kinh tế của đại học Michigan, giá nhà trung bình ở Detroit hồi tháng 1 năm nay xấp xỉ 13.600 USD, giảm 42% so với cùng kỳ năm trước. Giá nhà trung bình của bang Michigan là 84.300 USD, giảm 37% so với cùng kỳ tháng 1 năm 2008. Trên blog của tiến sĩ Perry có cập nhật số liệu tháng 2.2009, giá nhà ở Detroit giảm còn 12.600USD.
Mức giá này chưa tới nửa giá của chiếc xe Ford Focus tại Việt Nam.

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2009

Trường tư và bệnh viện tư

Vì sao người ta phải tìm tới trường tư hay bệnh viện tư? Người đặt câu hỏi này là Tim Harford, tác giả cuốn Khi nhà kinh tế học nằm vùng. Trước khi trả lời, Tim cung cấp thêm thông tin, trường công và bệnh viện công thường là miễn phí, chất lượng bác sĩ ở bệnh viện tư thường kém hơn đồng nghiệp làm ở bệnh viện công (Hình như ở VN phức tạp hơn, khi cũng ông A ngày làm ở BV công thì không bằng chính ông A đó buổi tối khám thêm ở BV tư).
Tim Hartford dẫn lại kết quả nghiên cứu của Jishnu Das và Jeffrey Hammer (làm cho world bank) về việc khám chữa bệnh ở Ấn Độ. 3/4 người bệnh ở Dehli tới cơ sở tư dù chất lượng không bằng bệnh viện công. Để tìm được câu trả lời, hai nhà nghiên cứu này khảo sát cùng 1 nhóm bệnh ở các cơ sở công và tư, dù bác sĩ tư được cho là kém về chuyên môn hơn, nhưng trên thực tế, họ chăm sóc bệnh nhân kỹ lưỡng hơn đồng nghiệp ở bệnh viện công. Nguyên nhân chính là bác sĩ tư chỉ được trả tiền khi họ thuyết phục bệnh nhân tin rằng họ đã chăm sóc tốt, điều trị chu đáo.
Một điều tra khác công bố trong cuốn The beauty Tree của James Tooley, giáo sư đại học New Castle, trong 500 trường tư chủ yếu học sinh là tầng lớp nghèo, với mức học phí dưới 3 USD mỗi tháng. Không chỉ ở Ấn Độ, mà còn ở Trung Quốc, Tây Phi, nhóm nghiên cứu của Tooley nhận ra rằng, các trường tư ở đó, dạy cho trẻ cũng giống như ở trường công, thậm chí còn nhiều hơn, chưa kể các phương tiện như nhà vệ sinh, thư viện, nước uống còn tốt hơn cơ sở công. Rõ ràng, với một mức phí cụ thể mà người mua phải trả (có thể là 3USD/tháng), các cơ sở dịch vụ đã hoạt động không thua kém các đơn vị được tài trợ công.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2009

Cử thái và các cuốn sách không nên mua

Cuốn Nhập môn tâm lý học mua đã lâu, nhưng rảnh rỗi gần đây, mới đem ra xem. Thật ra, lúc mua cũng hơi cẩn thận xem những giới thiệu ở bìa 4 và lời giới thiệu cũng như đọc lướt vài trang đầu, khá ổn. Lần này xem kỹ mới thấy bất ổn.
Đây là sách dạng nhập môn nên ngôn từ phải dễ hiểu và chú giải cẩn thận. Tuy tác giả có danh xưng tiến sĩ, nhưng ngay ở phần đầu, khi nói về behavior, dùng ngay từ cử thái, không hề có một chú giải gì và phạm vi nghĩa của từ này. Tra trong từ điển Bửu Kế về Hán Việt từ nguyên thì không có từ này. Từ điển tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học (2005) cũng không có từ này. Một người học ngôn ngữ cho rằng, có thể là từ ghép của cử chỉ và thái độ. Đành gấp sách, không đọc, vì sợ ngộ độc chữ, vì nghĩa từ quá thâm diệu, vượt xa đầu óc bình thường của người viết.
Lần trước, mua một cuốn sách dịch viết về Nokia (hình như tựa đề là Cuộc cách mạng viễn thông hay Nokia gì đó), cũng phải gấp sách vì không thể nào đọc tiếp bởi người dịch dùng từ sáng tân để dịch từ innovation. Một đồng nghiệp biết hai thứ tiếng (Anh, Pháp) cũng hỏi nghĩa từ sáng tân dùng trong cuốn này là dịch từ từ nào. Vẫn biết nguyên lý dịch là phải chấp nhận sự mất mát của ngữ nghĩa, nhưng sáng tạo để tránh sự mất mát theo cách ỏ trên e rằng còn mất lớn hơn.
Danh sách này chắc còn được bổ sung thêm nhiều, trong quá trình mua sách.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2009

Cơm chấm cơm

Một trường đại học khối tư thục dân lập đăng quảng cáo trên Tuổi trẻ, tuyển giảng viên, với các yêu cầu: cử nhân dưới 24 tuổi, thạc sĩ dưới 30 tuổi và tiến sĩ dưới 50 tuổi. Không thấy có các yêu cầu về kinh nghiệm gì khác.
Từ hai dạng đầu, khó có thể nghĩ rằng đại học này không phải là dạng cơm chấm cơm.
Tình trạng cơm chấm cơm, nôm na là cử nhân hay kỹ sư vừa ra trường đứng lớp giảng cho các sinh viên. Không có kinh nghiệm thực tiễn và giảng dạy, nên tình huống một giảng viên khối kỹ thuật đã đọc cho sinh viên chép lại một câu là xyz là một loại ống thủy, rồi ngưng trong giây lát mới đọc tiếp, tinh.
Có lần, một giáo sư nhiều năm giảng dạy ở nước ngoài, cho biết, trong trường quản trị, phải tối thiểu 5 năm kinh nghiệm mới giảng cho BA được; để giảng cho MBA cần 10 năm kinh nghiệm.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2009

Cấm và thượng tôn pháp luật

Từ ngày x tháng y năm z đường Lê Quý Đôn, Q.3 trở thành đường một chiều theo hướng từ Nguyễn Thị Minh Khai tới Võ Thị Sáu. Đi kèm lệnh cấm này là các băng vải đỏ chăng ngang các giao lộ với con đường chạy ngang trường trung học khá nổi tiếng để thông tin cho người đi đường. Cận ngày lệnh cấm có hiệu lực là các nhân viên mặc đồng phục, cờ đỏ hướng dẫn người tham gia giao thông chấp hành. Một tuần sau, lực lượng cảnh sát tuần tra và phạt người vi phạm Mô tả cụ thể như vậy để thấy rằng, để thay đổi hành vi, đòi hỏi thời gian và nhân lực, đi kèm các biện pháp từ thông tin hướng dẫn, răn đe và xử phạt. Đùng một cái, tháng bảy năm nay, tuyến đường này cho phép lưu thông trở lại hai chiều. Dĩ nhiên, sai thì phải sửa hoặc đây là giải pháp tạm thời khi các lô cốt giăng chi chít trên tuyến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tuyến song song nhưng có chiều ngược lại với Lê Quý Đôn. Điều đáng nói là công sức nghiên cứu thiết kế tuyến giao thông, xây dựng văn bản và thực hiện nó trở thành công cốc.
Cũng trong tháng 7, TP có quy định thực phẩm tươi sống được phép bán ở chợ, siêu thị, các cửa hàng văn minh tiện lợi. Quy định này đáng được hoan nghênh và nghiêm chỉnh thực hiện nhằm bảo vệ vệ sinh an toàn thực phẩm cho người dùng. Đáng tiếc là thời hiệu áp dụng từ 10.8 và hàng loạt vấn đề đặt ra như số lượng cửa hàng văn minh tiện lợi cũng như hệ thống phân phối thực phẩm chưa đủ và không phủ đều ở các cụm dân cư, ảnh hưởng tới đời sống của người dân. Lãnh đạo các cơ quan chức năng sau đó phải giải thích, đó chỉ là chủ trương và chỉ áp dụng khi có đủ các điều kiện kể trên. Vậy trách nhiệm của bộ phận tham mưu ra quyết định này ở đâu khi không lường trước hậu quả và hệ quả của nó?
Một năm sau ngày phát hành và nộp lưu chiểu đúng luật xuất bản, cuốn sách phát triển từ luận án cao học về ca từ Trịnh Công Sơn bị UBND Bình Định cấm lưu hành. Lệnh cấm này được phát ra dễ dàng, bất chấp quy định về quyền và chức năng của một cơ quan quản lý địa phương. Không rõ trách nhiệm của bộ phận tham mưu ở đâu trong lệnh cấm này?
Dẫn lại ba sự việc gần đây như vậy chưa thể nói là đủ, vì chưa kiểm đếm đầy đủ các văn bản bị “thổi còi” vì lý do tương tự. Trong ba chuyện trên, thay đổi hành vi của xã hội hay một bộ phận nào đó xem ra khá dễ dàng bằng một lệnh cấm. Mức độ dễ này không chỉ thể hiện qua việc ra quyết định mà còn ở công đoạn giải thích hay vô hiệu hóa quyết định đó. Hậu quả là lãng phí công sức (soạn thảo văn bản ra quyết định, thu hồi văn bản), nhân lực để thay đổi hành vi và cả nhân lực để giải thích, làm rõ ý nghĩa hay chủ trương của văn bản, dù đời sống thực của văn bản gần như không tồn tại. Hệ quả dễ thấy là ý thức và tinh thần thượng tôn pháp luật không có, dẫn tới tổn phí về nhân lực, thời gian của bộ máy (răn đe, xử phạt) để duy trì và bảo vệ ý thức thượng tôn pháp luật.
Không phải ngẫu nhiên mà các hình ảnh xấu như vượt đèn đỏ, cướp hoa... trở thành câu chuyện thường ngày.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009

Giá taxi và cách đánh lừa cảm quan

Cứ mỗi độ xăng lên giá, báo chí lại quan tâm ngay đến cước taxi và các phương tiện vận tải khác. Hai đợt tăng giá xăng gần đây, ít thấy báo nào nhắc đến chuyện này. Có lẽ, trong ba tháng trở lại đây, xăng tăng giá 4 lần rồi, nên báo chí cũng mệt khi mỗi lần lại phải lặp lại câu hỏi: giá cước taxi sẽ điều chỉnh thế nào?
Giá xăng A92 vừa nhảy lên 14.700 đ/l, tăng 500 đ. Khi xăng vừa điều chỉnh lên 14.200 đ/l, tôi có dịp đi taxi. Mới nhìn qua, khá yên tâm là giá cước không thay đổi khi con số 10.000 đ vẫn giữ nguyên. Cảm giác nghi ngại gì đó khiến tôi phải nhìn kỹ. Thay vì đơn vị là 1km, nay được điều chỉnh thành 0,9km. Có nghĩa là cước taxi đã tăng 10%.
Ở đây, người viết không định nói về chuyện giá xăng tăng như thế hợp lý hay không, mà chỉ bàn về cách thức thay đổi giá. Thường thì người ta hay đọc từ trái sang phải. Vì vậy, nếu đọc lướt quá, não bộ sẽ nhận ra vị trí đầu (con số 10.000đ) vẫn giữ nguyên. Liền sau đó, người ta có thói quen lướt qua phần sau. Do vậy, khả năng nhận biết giá taxi đã thay đổi thấp hơn bình thường.
Một điểm cần lưu ý thêm là việc điều chỉnh giá ở mức dưới 20% thường ít gây chú ý với người tiêu dùng. Vì vậy, các marketer khi thực hiện các chương trình giảm giá, thường đề nghị mức giảm tối thiểu là 20% để gây sự chú ý.
Không rõ nhà kinh doanh taxi có kết hợp có chủ đích cả hai cách kể trên để người tiêu dùng "an tâm" đi taxi, nhưng phải công nhận họ đã thành công khi tăng giá mà không tạo nhiều phản ứng, ít ra về mặt truyền thông.
Bên lề: Từ kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm của 1 doanh nghiệp taxi, có thể thấy khủng hoảng ít nhiều có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng. Doanh số trung bình mỗi ngày trong nửa năm đầu 2009 là 1,2 triệu/xe, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009

Sữa và câu chuyện niềm tin

Vài tuần trước, thông tin về giá sữa ngoại ở mức cao "phi lý" như một số nhà quản lý tràn ngập trên các báo. Kết quả là cơ quan quản lý "bó tay" với giá sữa ngoại vì đề nghị đưa loại hàng này vào danh mục hàng phải quản lý giá vẫn trong giai đoạn chờ xem xét. (Bàn về phi lý hay hợp lý và làm sao để giá sữa nhập khẩu không quá cao nằm ngoài phạm vi entry này, hẹn dịp khác sẽ bàn luận).
Hai ngày qua, thông tin về hàm lượng đạm thấp ở một số nhãn hiệu sữa trong nước lại thay nhau ngự trị trên các trang báo. Có lẽ, liều lượng thông tin bàn luận quanh chuyện này sẽ có mức độ không thua gì chủ đề giá "phi lý" của sữa nhập khẩu. Tờ Tiền phong sáng 15.7, giật tít "Hầu hết là sữa trong nước" khi nói về sữa thiếu đạm. Cách đặt tít này đã gói gọn được mục đích (nếu có) của sự xuất hiện luồng thông tin về chất lượng sữa sản xuất trong nước.
Qua hai đợt thông tin về giá và chất lượng, có thể nhận xét sau:
Nhận xét 1: Thông tin đợt 1 tập trung vào sữa nhập khẩu, được làm khá công phu, bài bản khi có thông tin đối chiếu giá ở VN và các nước lân cận, kể cả chính sách thuế nhập khẩu ở các nước. Người có lợi từ đợt thông tin này là sữa sản xuất trong nước. Muốn biết ai hưởng lợi nhiều nhất thì đành chịu, vì không có số liệu và cứ liệu, chưa kể tới khó phân biệt người thụ hưởng trực tiếp và người ăn theo. Một điều khá lạ, không thấy công bố chênh lệch giữa giá nguyên liệu nhập khẩu để tính giá thành và giá bán của sữa sản xuất trong nước. Không loại trừ khả năng con số chênh lệch cũng không thua kém gì sữa ngoại nhập khẩu.
Nhận xét 2: Thông tin đợt 2 như "một đợt đánh trả" của sữa nhập khẩu nhắm vào sữa sản xuất trong nước. Cách tóm gọn vấn đề như của báo Tiền phong là điều mà các hãng sữa nước ngoài đang mong đợi. Thứ nhất, nó là đòn chí mạng khiến người tiêu dùng không tin vào chất lượng của sữa sản xuất trong nước. Thứ hai, nó biện hộ cho giá bán cao của sữa ngoại qua sự liên tưởng chất lượng cao - an toàn - giá cao. Thứ ba và rất quan trọng, là tạo sự liên tưởng về chất lượng sữa sản xuất trong nước nói chung, không phân biệt là cơ sở sản xuất sữa theo công nghệ "cuốc xẻng", nghĩa là mua sữa nguyên liệu về trộn với vi chất (DHA, vitamin) bằng phương pháp thủ công, với các hãng sản xuất có đầu tư dây chuyền công nghệ.
Nhận xét 3: Cả hai đợt thông tin đều không thể giải quyết vấn đề giá và chất lượng một cách thấu đáo. Lý do đơn giản là cơ chế thị trường đang bị khiếm khuyết. Xét về các lực lượng tham gia thị trường, có các đại diện sau: nhà nước với vai trò quản lý và giám sát luật chơi; doanh nghiệp và người tiêu dùng. Trong đó, doanh nghiệp tạm chia thành hai nhóm là nhập khẩu và sản xuất trong nước. Hai nhóm này có thực lực để thực thi các chiến dịch quảng bá, PR, lobby để tạo ra định hướng tiêu dùng theo cách có lợi nhất cho doanh nghiệp. Trong khi đó, người tiêu dùng tuy đông nhưng lại thiếu một tiếng nói đại diện, dù hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng đang tồn tại.
Nhận xét 4: Người tiêu dùng có thể đặt niềm tin vào sữa sản xuất trong nước được hay không khi xuất hiện các thông tin sữa có mạt kim loại, sữa có melamine và sữa hàm lượng đạm thấp (2 lần xuất hiện)? Dễ thấy là các công ty sữa trong nước, trừ một số ít, có khả năng tài chính để xây dựng hình ảnh, quảng báo thương hiệu, còn lại là doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm ăn "bóc ngắn, cắn dài". Để có một thị trường sữa phát triển dựa trên cạnh tranh lành mạnh, không chỉ trông đợi vào vai trò của nhà nước trong quản lý giá hay cục quản lý cạnh tranh để xử phạt các hành vi thông đồng ấn định giá như Hàn Quốc đã làm với nước giải khát, mà còn phải dựa vào vai trò của hiệp hội các nhà sản xuất sữa trong nước. Hiệp hội này không thể chỉ là tiếng nói đại diện để xin tăng giá như hiệp hội taxi, mà còn xây dựng bộ tiêu chuẩn chất lượng và giám sát chặt chẽ thực thi chất lượng. Khi doanh nghiệp nào đó bị gạch tên khỏi hiệp hội vì có hành vi gian dối, lừa gạt người tiêu dùng mà kết quả khiến doanh nghiệp có thể phải phá sản như sữa Tam Lộc từng bị ở Trung Quốc, thì nguời tiêu dùng mới có cơ sở để đặt niềm tin, thay vì trông chờ vào các đơn vị quản lý như thanh tra y tế, cục vệ sinh an toàn thực phẩm, cục quản lý cạnh tranh hay chờ sự lớn mạnh và hoạt động thực chất, hữu hiệu hơn của hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng.

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2009

Thiếu men cho sáng tạo

Giải nhất cuộc thi phát minh năm nay của tạp chí Khoa học phổ thông (Mỹ) được trao cho xe tăng tự hành không người lái với tốc độ tối đa lên tới 90km/h. Đây là thành quả chín năm ròng miệt mài nghiên cứu, chế tạo của hai anh em nhà Howe là Geoff và Mike.
Trong khi Mike là nhà tư vấn tài chính, Geoff làm đốc công cho một nhà máy phân bón. Kiến thức cơ khí, động lực do họ tự học. Trình diễn mô hình tại hội chợ xe hơi washington năm 2005, họ đã được bộ Quốc phòng Mỹ đầu tư 1,25 triệu USD để phát triển sản phẩm tự chế này. Cũng từ đó, công ty công nghệ Howe và Howe ra đời. Năm 2005, ông nông dân tỉnh Tây Ninh là Trần Quốc Hải cũng có bước khởi đầu như anh em nhà Howe, khi họ thử nghiệm chế tạo máy bay trực thăng. Sau đó, năm 2007, bộ Quốc phòng và bộ Khoa học công nghệ cùng chuyên gia hàng không, thiết bị chuyên ngành đánh giá, máy bay được chế tạo không đủ điều kiện kỹ thuật, không bảo đảm an toàn. Theo VNN, máy bay của các nhà sáng chế nông dân “không có bản vẽ thiết kế, không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật làm cơ sở đánh giá tính chất khí động học, độ bền kết cấu...”.
Trao đổi với ông Trần Quốc Hải, mất sáu năm mới hoàn thành được chiếc máy bay đầu tiên. “Chiếc thứ hai chỉ mất sáu tháng” – ông Hải nói. Tuy không được phép bay, nhưng chiếc máy bay trực thăng do ông Hải tự chế đã được đưa đi triển lãm ở nước ngoài trước khi được một viện bảo tàng ở New York mua lại để trưng bày. Chiếc thứ hai đã được trưng bày ở Áo, Singapore và tháng 8 năm nay sẽ sang Nhật. Ông Hải cho biết, tiền bán chiếc máy bay đầu cũng đủ trang trải kinh phí mua sắm động cơ, chế tạo thiết bị.
Chiếc máy bay đầu tiên không thể trưng bày ở New York, theo ông Hải, nếu không có sự giúp đỡ tài chính của ông Lê Văn Danh. Ông Hải cũng không có nhiều điều kiện tiếp cận kiến thức khoa học công nghệ như anh em nhà Howe. Môi trường nghiên cứu và kinh doanh mà ông Hải đang sống cũng thiếu các doanh nghiệp chấp nhận đầu tư mạo hiểm từ các ý tưởng phát minh, sáng chế tưởng chừng như không thể có như cách một nông dân như ông Hải nghiên cứu và thiết kế máy bay.
Ông Hải giờ đã hiểu rõ quy trình và thủ tục khi chế tạo các vật thể bay, nên quay sang thiết kế máy công cụ. “Nói chung cũng lấy nó nuôi nó được” – ông Hải nói về máy tuốt lá đang bán cho nông dân trong vùng. “Tôi chế tạo những gì tôi nghiên cứu” – ông Hải nói về các sản phẩm đang nghiên cứu như máy tuốt lá hay robot tự hành. Nhưng không quen và không có kiên thức về cách thức tổ chức nghiên cứu và sản xuất, ông không quen và chẳng nghĩ đến việc lập ra công ty công nghệ mang tên ông. “Tôi vẫn chờ đến khi có điều kiện để xây dựng xưởng sản xuất bài bản, tiêu chuẩn hóa. Thị trường máy nông nghiệp vẫn còn nhiều đất để phát triển” – ông Hải nói.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009

Cuộc đua đường dài

Một doanh nhân có tiếng ở đất Bắc từ thập niên 1980 đưa ra triết lý đèn vàng. Nghĩa là phải chớp thời cơ để đi trước, bởi đợi đèn xanh thì xuất phát ngang nhau. Không may, ông phải hai lần vào tù vì cách đi lúc đèn mới vàng như vậy.
Dĩ nhiên, cơ hội trong kinh doanh là điều rất quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là cách nắm lấy cơ hội như thế nào. Trong suy nghĩ đi theo đèn vàng của người kinh doanh, việc nắm lấy cơ hội theo cách đó có vẻ như phù hợp với cuộc đua cự ly ngắn. Với các cuộc đua đường trường, xuất phát nhanh hay chậm tùy thuộc vào cách phân phối sức và thể trạng của người chạy.
Ở giấc mơ công nghiệp điện tử Việt Nam không thành, ngoài nguyên do sai lầm về chiến lược, không chỉ có doanh nghiệp nước ngoài tận dụng hàng rào bảo hộ thuế để làm giàu hợp pháp, mà doanh nghiệp trong nước cũng là vận động viên chạy đường ngắn. Không lấy làm lạ khi hầu hết doanh nghiệp sản xuất xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên bài toán thương mại. Kết quả là hàng trong nước có hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp. Đã vậy, các toan tính kinh doanh đều là ngắn hạn, mang tính thời vụ. VTB làm hàng điện tử, nhảy sang lắp ráp máy tính.
Thế nên, sự thắng thế của hàng điện tử Việt Nam chỉ mang tính giai đoạn. Khi hàng rào quan thuế bị dỡ bỏ theo các cam kết hội nhập khu vực và quốc tế, hàng điện tử trong nước lâm cảnh chợ chiều. Khi mảng máy tính hết ăn bởi các doanh nghiệp máy tính mạnh của nước ngoài như HP, Dell đưa máy bộ giá rẻ vào Việt Nam, thì VTB chuyển sang điện gia dụng. Với cách xoay trở nay lắp ráp cái này, kia lắp cái khác như vậy, năng lực cốt lõi của một đơn vị sản xuất điện tử khó lòng được nâng cao, cũng như khó lấn sang các công đoạn có hàm lượng giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị.
Câu chuyện của VTB không phải là cá biệt. Có thể thấy doanh nghiệp làm bánh đi làm địa ốc. Doanh nghiệp máy tính đi làm ngân hàng. Dẫu chiến lược nhắm tới người dùng điện tử của một doanh nghiệp kinh doanh máy tính và phần mềm có sức thuyết phục, giới phân tích vẫn phải nghi ngờ về khả năng thực hiện khi họ “ôm đồm” từ chứng khoán, ngân hàng, tới sản xuất máy tính hay mới đây là sản xuất điện thoại. Làng công nghệ thông tin thế giới không thiếu các anh tài như Microsoft, IBM, Google. Các “đại gia” công nghệ này dù hoạt động ở các nước phát triển vẫn chăm chút cho mảng miếng kinh doanh dựa trên nền năng lực lõi đã được hoạch định sẵn.
Nếu không xác định và chuẩn bị tâm thế cho một đua đường dài, để chuẩn bị kỹ, sức cạnh tranh cho hàng nội vẫn là câu chuyện sẽ còn bàn cãi trong tương lai.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009

Thay nhà báo bằng nhà thơ

Tổng biên tập Dov Alfon của tờ Haaretz, nhật báo uy tín xuất bản bằng tiếng Do Thái ở Israel, một ngày thứ tư nọ (10.6), quyết định cho 31 phóng viên bản báo nghỉ việc một ngày. Làm thay công việc của họ là các nhà thơ, nhà văn, viết hầu hết ở các mục từ chính trị tới kinh tế, thời tiết, chỉ trừ trang thể thao.
Haaretz ra đời năm 1918, tuy phát hành mỗi ngày chỉ khoảng 50.000 bản, thấp hơn nhiều so với hai tờ báo khác, nhưng rất có uy tín vì đối tượng đọc chọn lọc. Các nhà phân tích đã ví nhật báo này với New York Times ở Mỹ. Trong ngày thử nghiệm đó, các quy phạm báo chí bị bỏ qua một bên. Các nhà văn, nhà thơ tự do dùng ngôi thứ nhất. Viết về chứng khoán, tác giả Avri Herling viết: "Mọi thứ đều tốt. Mọi thứ đều diễn ra như thường nhật. Dow Jones mua bán như bình thường, đóng cửa ở mức.... ". Mục dự báo thời tiết được đặt tựa: Bài Sonet mùa hè. (“Summer is the pencil/that is least sharp/in the seasons’ pencil case.” Đặc biệt, tiểu thuyết gia 79 tuổi Yoram Kaniuk có bài tường trình về cuộc sống của đôi tình nhân mắc bệnh ung thư. Bản thân ông này cũng mắc bệnh ung thư. Kaniuk thừa nhận ông viết bài dưới con mắt nhà văn hơn là nhà báo. Ông cho biết: "Nếu bạn thấy điều tốt đẹp và cảm nhận được nó, tại sao lại không viết vậy?"
Sau cuộc thử nghiệm, ông Alfon nhận xét: "Sự kiện nào trong ngày là quan trọng nhất trong mắt các nhà văn? Họ đã viết và cách họ chọn làm chúng tôi sửng sốt".

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Ông vua có lỗ tai lừa hay nguồn gốc truyền thông

Thế kỷ mười mấy (thứ lỗi cho trí nhớ của U40), ông già họ Gu sáng chế ra chữ chì, mở đầu cho báo in. Sau khi có điện và sóng vô tuyến, radio ra đời. Cái TV thử nghiệm vào thập niên 30 của thế kỷ 20. Khi chữ @ đầu tiên xuất hiện ở thập niên 70 mở màn cho kỷ nguyên internet, để rồi báo điện tử ra đời. Lược sử phương tiện thông tin đại chúng theo công nghệ có thể tóm tắt như vậy. Nhưng còn trước đó?
Bạn có thể không tin, nhưng người viết cho rằng, có thể xem truyền thông bãi sậy là tổ tiên của phương tiện thông tin đại chúng. (Bạn đừng lầm lẫn bãi sậy trong entry này với vua họ Triệu ở nước Nam nha). Vì không nén nổi "cảm hứng trào dâng" sau khi biết ông vua có lỗ tai lừa, viên thợ cạo đành ra đào hố, nói vọng xuống đất thông tin này. Dù đã lấp đất chôn chặt bí mật chết người đó, thông tin truyền từ đất lên cây sậy rồi theo gió rì rào đưa đi. Bí mật đã bật mí như thế đó.
Bạn thử đoán xem, các quan trong triều sẽ làm gì để ngăn chặn thông tin lan truyền nhỉ?

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Tăng trưởng quảng cáo

Theo Nielsen, quảng cáo tại 5 nước India (29%), Indonesia (19%), China (17%), Malaysia (12%), Philippines (11%) trong năm 2008 vẫn tăng. Con số trong ngoặc là mức tăng trưởng so với năm 2007.
Về các nước trong khu vực Đông Nam Á, báo cáo của Nielsen chỉ ra:
Đáng chú ý, ở Indonesia, quảng cáo báo in tăng 29%, tạp chí tăng 22%. Malaysia có mức tăng trưởng quảng cáo truyền hình len tới 20%, báo in chỉ có 8%, còn tạp chí giảm 6%. Philippines có vẻ như ngược lại xu hướng của Malaysia, khi quảng cáo tạp chí dẫn đầu, với 20%, xếp sau là truyền hình và báo in với mức tương ứng là 11% và 5%. Trong năm nước ASSEAN, chỉ có Thailand giảm sút chi phí dành cho quảng cáo.

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2009

Nghiên cứu theo đơn đặt hàng II

Trong entry trước, tôi đã đề cập đến đơn đặt hàng mà kết quả được cho trước, chỉ cần đơn vị nghiên cứu đồng ý, thực hiện làm sao cho ra đúng kết quả của bên đặt là được. Tuy có đơn vị từ chối, nhưng cũng có nơi khác nhận.
Trùng hợp ngẫu nhiên với nội dung chiến dịch trên, là bài báo xuất hiện trên TT. Từ nội dung bài viết, có thể thấy làn sóng các thương hiệu nhỏ xuất hiện ngày càng nhiều ở Việt Nam sẽ biến đất nước hình chữ S này thành bãi rác công nghiệp trong tương lai. Nếu theo luận điểm này, chỉ có các anh lớn như Nokia mới nghĩ tới môi trường.
Một thông điệp khác là rủi ro cho người dùng khi mua máy từ các nhãn hiệu nhập khẩu từ Trung Quốc.
Vài suy ngẫm:
Suy ngẫm 1: Nokia sẽ có trách nhiệm gì với đống rác mà họ mang vào Việt Nam trong suốt mười mấy năm qua? Nên nhớ rằng, hãng đang chiếm thị phần lớn nhất ở VN, nên không thể chối bỏ trách nhiệm này. Hay ở đây, sẽ áp dụng nguyên tắc "bất hồi tố".
Suy ngẫm 2: Cứ suy nghĩ lối nông dân ăn chắc mặc bền, một đời ta, ba đời nó. Nếu 1 máy có thương hiệu lớn giá gấp đôi, gấp ba, thì mua máy rẻ, có khi còn được xài tới hai máy, cũng được 4-5 năm. Nên nhớ, vòng đời của điện thoại di động ở Việt Nam, hiện chỉ còn 9-12 tháng.
Suy ngẫm 3: Tôi có ông bạn làm nghề lái xe tải, thường phải làm việc đêm. Nếu không có công nghệ tàu, thì ông bạn tôi không thể giải trí xem TV khi chờ lấy hàng, qua điện thoại di động. Với mức giá dưới 2 triệu đồng, ông bạn tôi có nhiều lựa chọn, trong khi 1 chiếc điện thoại xịn, có khi ông bạn tôi chở luôn cái TV đi theo, còn kinh tế hơn.
Update 1: Phát phát hiệu mở màn cho chiến dịch này được khởi động ở Thanh Niên (xem ở đây). Có lẽ, cao trào sẽ là công bố kết quả nghiên cứu (chưa rõ đơn vị nào thực hiện).
Comment1: Người phụ trách chiến dịch này của Nokia sẽ "ăn đòn" vì trong bài trên TN có 1 sơ suất sau. Trong bài có câu: "Trước kia, người ta chỉ cảnh báo về các dòng sản phẩm ĐTDĐ trôi nổi tại các cửa hàng nhỏ lẻ thì nay khách hàng còn dễ dàng nhận thấy những “họ hàng” của dòng hàng trôi nổi đang xuất hiện rất rộng rãi tại các hệ thống siêu thị ĐTDĐ".
Cách viết này, vô tình hay cố ý, đẩy chủ các hệ thống siêu thị đứng về phía các thương hiệu nhỏ. Bạn thử nghĩ rằng, nếu tất cả các hệ thống siêu thị quay lại chỉ trích Nokia thì kết quả sẽ ra sao. Ngoài ra, luận cứ bài viết trên không thuyết phục. Khi nói về "nhái" kiểu dáng, người vạch chiến dịch này quên mất rằng, không có 1 hãng nào đăng ký sở hữu kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam. (Trước kia, Honda từng mắc lỗi này, sau khi thực hiện chiến dịch xong, đã phải đăng ký). Nên nhớ rằng, sản phẩm điện thoại di động có vòng đời rất ngắn, chờ 6 tháng đăng ký thì mẫu đã bị bỏ rồi. Cho nên câu chuyện "giống y chang" không có gì để bàn. Chưa kể là làng di động từng chứng kiến cảnh giống y chang rồi, thử hỏi Samsung mẫu cảm ứng có gì khác với iPhone...
Cũng là hàng OEM, O2 (Anh) khác gì Dopod, bởi cùng OEM ở HTC. Sự khác biệt ở các sản phẩm không nằm ở mẫu mã mà các tiện ích mang lại.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009

Tránh thảm họa từ tài nguyên

Khi phát hiện ra mỏ dầu ở Ghana năm 2007, trong khi nhiều quan chức chính quyền tỏ ra vui mừng, xem đó là cơ hội đổi đời của đất nước, thì tổng thống nước này bình tĩnh tuyên bố: “Đôi khi, nó cũng là thảm họa”. Điều này đã từng xảy ra ở các nước đang phát triển, gây ra nghịch lý phát triển là càng phát hiện ra nhiều tài nguyên, càng dễ lâm vào tăng trưởng thấp.
Ba lý do
ba lý do khiến cho phát hiện tài nguyên trở thành nguy hại thường xảy ra ở các nước đang phát triển, theo nhà kinh tế Paul Collier. Thứ nhất, việc tìm thấy các nguồn tài nguyên có giá trị như dầu mỏ, than, hay bauxite, khiến cho việc phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các ngành, và do vậy, khiến cho sức cạnh tranh của một số ngành không thuộc ngành khai khoáng không cao. Các nhà kinh tế gọi đó là căn bệnh Hà Lan (Dutch Disease, xem thêm bài của Huỳnh Thế Du).
Thứ hai, giá hàng hóa dao động không ổn định, theo các chu kỳ chi tiêu tăng và giảm, hệ quả của việc đầu tư kém và chi tiêu bất tương xứng. Theo Collier, trong thời kỳ hoàng kim, một bộ trưởng của Kenya đặt ra ngân sách chi tiêu tăng tới 30 lần.
Cuối cùng, lợi tức khổng lồ và dễ dàng từ khai thác tài nguyên tác động tới quản trị, điều hành và hoạt động không hiệu quả của các định chế công. Collier đưa ra các vấn nạn như tham nhũng, nhóm lợi ích.
Các biện pháp phòng tránh
Trung tuần tháng 5, một nhóm các nhà kinh tế, trong đó có Collier và Nobel Kinh tế Mike Spence, đã nhóm họp ở Oslo và thông qua hiến chương về tài nguyên thiên nhiên. Hiến chương này thiết lập bộ quy tắc các nguyên lý kinh tế cho chính phủ và xã hội để nắm lấy cơ hội phát triển từ phát hiện tài nguyên thiên nhiên.
Những người nghi ngờ tác dụng thực tế của hiến chương có thể xem lại ví dụ cụ thể từ sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng EITI do chính phủ Anh đề xuất năm 2002. Nếu một chính phủ không làm đúng theo đó, họ sẽ phải giải thích cho nhân dân lý do không tuân thủ hiến chương hay sáng kiến trên.
Trong 12 nguyên tắc cơ bản của EITI, ngay điều đầu tiên, ghi nhận vai trò quan trọng của tài nguyên, nhưng cũng lưu ý rằng, nếu quản lý không tốt, sẽ gây ảnh hướng xấu tới phát triển kinh tế và xã hội. Đặc biệt, điều số 4 ghi rõ, chi phí và lợi nhuận từ khai thác tài nguyên sẽ giúp hình thành nên các chọn lựa xã hội thích hợp về phát triển bền vững. Điều cuối cùng ghi rõ, mọi thành phần có liên quan đều có vai trò quan trọng và có mức độ đóng góp nhất định.
Nếu một quốc gia cam kết thực hiện EITI, các hoạt động khai khoáng (mỏ, dầu khí, than đá) đều phải thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế, không phân biệt đó là công ty tư nhân, nhà nước hay đầu tư nước ngoài.
Trong sáu tiêu chuẩn của EITI, điều số 5 ghi rõ: xã hội dân sự là một tác nhân thiết kế, đánh giá và giám sát hữu hiệu.
Dưới góc nhìn của Collier và EITI, thì tài nguyên bauxite của Việt Nam đứng hàng thứ ba thế giới về trữ lượng, cũng có thể là thảm họa nếu không có phương án khai thác hiệu quả.

Kỳ 3 Di dân Trung Quốc: Nền kinh tế thứ ba thế giới

Sau Mỹ, Nhật, nước nào có nền kinh tế đứng thứ ba thế giới? Câu trả lời không chính thức là cộng đồng Hoa kiều ở nước ngoài.

Khoảng 60 triệu Hoa kiều,trong đó hơn 50 triệu ở Đông Nam Á, 6,5 triệu ở bắc Mỹ. So với dân số Trung Quốc, số dân ở nước ngoài không đáng kể. Ước tính, tổng tài sản của Hoa kiều ở nước ngoài vào khoảng 200-300 tỉ USD. Nguồn lực kinh tế của khối này, theo Asia Times, có thể đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Nhật.
Nguồn lực kinh tế chủ đạo của Đông Nam Á
Hoa kiều ở Đông Nam Á không chỉ thống trị trong thương mại và dịch vụ mà còn nắm giữ ngân hàng và bất động sản. Chiếm cơ cấu nhỏ về dân số ở các nước sở tại, nhưng khả năng chi phối kinh tế của khối người Hoa là cực kỳ lớn. (Xem bảng về Hoa kiều ở Đông Nam Á và nguồn lực kinh tế).

Các số liệu trên cho thấy, nếu kinh doanh ở Đông Nam Á, bạn bắt buộc phải làm việc với cộng đồng người Hoa.
Không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong các nền kinh tế của các nước trong khu vực, thậm chí nguồn nhân lực Hoa kiều còn chi phối kinh tế lao động của một số nước. Theo tiến sĩ James Chin (Đại học Hongkong), nếu không có bổ sung nhân lực từ Trung Quốc, Campuchia sẽ gặp khó khăn.

Thách thức và cơ hội

Không thể phủ nhận đóng góp của lao động Trung Quốc cũng như vai trò của đầu tư từ nước đông dân nhất thế giới tới khu vực, nhưng sự dịch chuyển của lao động nhập cư Trung Quốc cũng như tác động của người Trung Quốc định cư khiến chính quyền sở tại của nhiều nước phải rà soát lại chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Các học giả Trung Quốc nhấn mạnh tới việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật do người nhập cư gốc Hoa mang lại trong giai đoạn hiện tại, thay vì chỉ đóng góp cơ bắp như trong thế kỷ 18 hay 19.
Trong 10 năm qua, nhà buôn, nhà thầu, kỹ sư và nhân công kỹ thuật Trung Quốc không chỉ giúp cải thiện hạ tầng giao thông ở Lào, mà còn gia tăng thương mại hai chiều giữa Lào và Trung Quốc. Ở thủ đô của Campuchia, nhà hàng của Hoa kiều vượt lên trên các nhà hàng của dân bản xứ. Tốc độ phát triển và sự hiện diện của cộng đồng người Hoa không ít thì nhiều, khiến dân địa phương lo ngại. Trong 20 năm qua, không hiếm cảnh người dân bản địa phản ứng lại cộng đồng Hoa Kiều như ở Indonesia năm 1998.
Theo Andrew Forbes, chuyên gia về Trung Quốc ở Chiang Mai (Thái Lan), khác biệt của làn sóng mới từ Trung Quốc với lớp người trước, là mối dây liên kết mật thiết hơn với đại lục. “Lớp người mới yêu nước Trung Hoa và trung thành với tổ quốc hơn” – Forbes nhận xét từ quan sát hơn 20 năm nghiên cứu Trung Quốc. Quan niệm đó được nhà nghiên cứu Trung Quốc học, Nyiri Pal, người Hungary tán đồng.

Tuy chỉ chiếm số lượng nhỏ, nhưng ảnh hưởng lâu dài từ lao động nhập cư Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á rất lớn. Thách thức lớn nhất, với các nước, là kiểm soát lao động nhập cư hợp pháp. Trong 10 năm qua, lợi nhuận từ việc đưa người sang Anh và Mỹ đã tăng gấp đôi, với mức hiện hành là 30.000 USD/người qua Anh và 70.000 USD/người sang Mỹ. Đối sách với làn sóng di dân, theo tiến sĩ John walsh (đại học Shinawatra, Thái Lan), không chỉ ở việc quy định mức lương tối thiểu, đăng ký lao động, mà còn phải tính tới chính sách lâu dài về nguồn nhân lực và bài toán an sinh xã hội. Tuy nhiên, lợi ích của Trung Quốc trong việc việc người Hoa di dân ra nước ngoài mang tính chiến lược. Trên một tạp chí Trung Quốc có trích đăng ý kiến của hội đồng nhà nước về nguồn nhân lực mới di dân, ghi rõ: “Đó là nguồn lực quan trọng trong tương lai, gúp thắt chặt quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây. Tăng cường sức mạnh của khối di dân Trung Quốc mới không chỉ mang lại ích lợi thiết thực cho Trung Quốc mà còn quảng bá hình ảnh quốc gia cũng như gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc và phát triển mối quan hệ với các nước có người Trung Quốc sang định cư”.

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2009

Kỳ 2 - Di dân và chính sách từ địa phương tới quốc gia

Khi tay tù nổi tiếng vượt ngục Papillon trong tự truyện cùng tên miêu tả một lần trốn tù ở hòn đảo hoang vắng trên Thái Bình Dương, anh ta đã gặp một lán trại nuôi heo của người Hoa ở vùng này. Dù rằng, người Người Hoa không phải là dân tộc thiên di, theo nhận xét của nhà nghiên cứu Ronald Skeldon viết trong bài Di dân Trung Quốc đăng trên tờ Journal of International Affairs năm 1996. Quan điểm của học giả này là người Trung Quốc không muốn ra đi nếu không biết có cơ hội và không ai ra đi mà không muốn quay về khi giàu có.
Địa phương tạo điều kiện
Hiểu rõ điều này, nên người dân các tỉnh ven biển Trung Quốc không gặp trở ngại nào từ chính quyền địa phương khi họ tìm đường ra nước ngoài. Ở phần lớn những nơi có di dân mới ra đi, chính quyền cơ sở thường khuyến khích di dân hợp pháp, có những nơi thậm chí ngầm cho phép di dân theo đường bất hợp pháp. Ở những nơi này, hành động di dân ra nước ngoài đã thành thời thượng, rất nhiều cán bộ cơ sở đồng tình với câu ngạn ngữ mới “đi một người, giàu cả nhà, đi mười người, giàu cả thôn”. Họ tạo điều kiện thuận lợi cho di dân ở huyện mình, xã mình, có huyện, xã, ban ngành chức năng thậm chí còn soạn in những thông tin về nơi cần đến của di dân, tình hình đồng hương và phương thức liên hệ, tạo thuận tiện cho di dân ra nước ngoài làm ăn. Đồng thời, địa phương còn tích cực phối hợp với người Hoa định cư ở nước ngoài để chuẩn bị các giấy tờ chứng minh cần thiết để định cư.
Chủ trương cởi mở với người ra nước ngoài tìm cơ hội một mặt giúp chính quyền địa phương giảm áp lực về việc làm tại chỗ, bớt căng thẳng về an sinh xã hội, mặt khác cũng mang lại nguồn lợi từ thu nhập của lao động gửi về. Số liệu thống kê cho thấy, trong mười năm đầu mở cửa, Trung Quốc thu hút đầu tư nước ngoài trực tiếp được được 9,546 tỷ USD, trong đó 96% từ vốn của người Hoa ở nước ngoài. Khoảng đầu tư của người Hoa ở Đông Nam Á chiếm gần 1/3.
Cùng với hệ thống giao thông đường bộ phát triển, các tuyến hàng không trong khu vực khiến cho di dân tới Đông Nam Á trở nên thuận tiện do chi phí thấp hơn so với sang các nước đang phát triển.
Trung ương ủng hộ
Bỏ quản lý theo hộ khẩu, thủ tục cấp hộ chiếu đơn giản và đưa lao động ra nước ngoài vốn là ba chính sách cơ bản tạo điều kiện cho hai làn sóng người Hoa ra nước ngoài làm ăn, sinh sống của chính quyền trong thời gian đầu. Làn sóng thứ ba gắn liền với chủ trương khuyến khích doanh nghiệp ra nước ngoài làm ăn và chủ trương đầu tư, viện trợ cho các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Hiệp định khung thương mại tự do giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á tuy không nói tới lao động, nhưng đi cùng với hàng hóa, đầu tư từ Trung Quốc là các thương nhân, chuyên viên kỹ thuật và lao động từ có tay nghề tới giản đơn.
Cũng giống như bao thế hệ người Hoa khác khi ra nước ngoài, mô hình chung của người Hoa mới nhập cư cũng theo đường kiếm sống bằng bán hàng Trung Quốc trên hè phố, sau đó tích lũy vốn để mở cửa hàng nhỏ, dần dần tới phát triển thành cửa hàng bán buôn và mở sang ngành khác. Khác biệt lớn nhất giữa lớp người cũ và mới là lớp người sau phụ thuộc nhiều vào hàng hóa từ Trung Quốc hơn.
Từ khi Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng của nước này tại các nước như Myanmar, Lào, Campuchia thông qua viện trợ chính phủ và đầu tư, lao động Trung Quốc hiện diện ngày càng nhiều. Ở những công trình đầu tư và viện trợ xây dựng của người Trung Quốc ở Đông Nam Á thông thường doanh nghiệp Trung Quốc đều phải đưa sang một số lượng lớn nhân viên quản lý, nhân viện kỹ thuật và công nhân lành nghề của Trung Quốc.
Tính đến 2007, có hơn 3.000 công ty Trung Quốc đăng ký ở Campuchia, tập trung chủ yếu vào ngành điện, dệt, vật liệu xây dựng. Theo ước tính của một nhà kinh tế dân số phương Tây, di dân Trung Quốc đến Campuchia có thể lên tới 300 ngàn người, rải rác ở khắp nơi. Theo thống kê của Ủy ban đầu tư Myanmar, tính đến hết năm 2007, có 27 dự án Trung Quốc đầu tư vào Myanmar. Trong các năm 2003-2004, Trung Quốc đứng đầu trong số các nước đầu tư vào Lào. Bộ khai khoáng Lào công bố, đến tháng 8.2006, đã có 43 dự án trong ngành khai khoáng do Trung Quốc đầu tư, chiếm 34% trong tổng số các dự án khai khoáng ở Lào. Các doanh nghiệp đầu tư Trung Quốc đều cần một lượng lớn lao động lành nghề và nhân viên kỹ thuật trình độ trung bình, đa số tìm cách đưa sang từ Trung Quốc đại lục sang. Hơn nữa, những dự án này thông thường do công ty Trung Quốc đảm nhận xây dựng, những công ty đó cũng phần lớn thu hút những người làm xây dựng các loại của Trung Quốc.
Lao động Trung Quốc sang Đông Nam Á không chỉ qua các dự án đầu tư mà còn theo các hợp đồng thi công công trình. Từ năm 1999, Myanmar trở thành thị trường lớn chỉ sau Singapore về bao thầu công trình của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trong thời gian từ năm 2000 đến 2005, giá trị các công trình nhận thầu của Trung Quốc ở Mianma lên tới hơn 1,7 tỷ USD, tốc độ tăng nhanh hơn các quốc gia khác ở Đông Nam Á. Cũng trong thời gian đó, rất đông di dân Trung Quốc đổ sang Mymanar, hiện tượng nói trên liên quan trực tiếp đến sự gia tăng nhanh chóng số lượng công trình nhận thầu của Trung Quốc ở nước này.
Theo nghiên cứu do McCartan công bố năm 2008, hầu hết lao động Trung Quốc khi hết hợp đồng đều tìm cách ở lại, cùng với cộng đồng người Hoa bản địa, hình thành nên các khu phố Tàu như ở Mandalay (Myanmar) hay Vientinane (Lào).

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2009

Kỳ 1 Di dân Trung Quốc sang Đông Nam Á: Làn sóng thứ ba

Từ 1980, ước khoảng 2,5 triệu người Hoa mới tới vùng Đông Nam Á. Đặc biệt của làn sóng thứ ba, tính từ 2000 trở đi, là di dân theo các dự án đầu tư viện trợ của nhà nước Trung Quốc. Người Hoa có mặt ngày càng nhiều ở Myanmar, rồi Sri Lanka. Nếu kết nối các vùng này lại, người ta sẽ thấy nó phù hợp với chiến lược chuỗi ngọc mà Trung Quốc đưa ra để kiểm soát Ấn Độ Dương. (Tư liệu sử dụng trong loạt bài này chủ yếu từ AsiaTimes và các tài liệu nghiên cứu của các học giả về kinh tế học dân số trong khu vực)

Ngoại ô Mandalay, thành phố lớn nhất miền đông Myanmar vẫn mang dáng dấp của thuộc địa Anh thế kỷ 19. Các sư mặc áo cà sa dài. Nhưng trung tâm thành phố đã hoàn toàn thay đổi với sự xuất hiện của khu thương mại lớn do người Hoa mới sang đây lập nghiệp lập nên. Bên trong, tràn ngập đồ điện, gia dụng Trung Quốc, phía ngoài bán táo Tàu. Một cư dân địa phương nhận xét: “Hàng hóa bán ở đây có xuất xứ từ Trung Quốc”.

Sự hình thành trung tâm thương mại do người Hoa làm chủ ở Mandalay không phải là chuyện cá biệt ở Đông Nam Á. Khi làn sóng người Hoa nhập cư tới các nước trong khu vực nổi lên từ năm 1980.

Hai làn sóng đầu

Cải cách kinh tế do Đặng Tiểu Bình khởi xướng mang lại cơ hội cho người Trung Quốc ra nước ngoài làm ăn, sinh sống. Bỏ thủ tục quản lý theo hộ khẩu, nới lỏng chính sách cấp hộ chiếu trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, được các nhà nghiên cứu xem là tiền đề cho làn sóng di dân của Trung Quốc.
Dựa trên mối dây liên hệ trong cộng đồng Hoa kiều ở Đông Nam Á, người dân các tỉnh ven biển phía nam Trung Quốc, có cơ hội ra các nước làm ăn. Số liệu thống kê chưa đầy đủ, từ 1980 tới nay, có khoảng 2,5 triệu người Hoa đến Đông Nam Á làm ăn sinh sống. Dựa vào cầu nối người Hoa ở các nước Đông Nam Á, trong hai đợt di dân cuối thế kỷ 20, người Hoa chủ yếu sang các nước có cộng đồng Hoa kiều mạnh. Nhóm di dân mới đầu tiên đến Đông Nam Á là từ các khu vực Tấn Giang, Phúc Kiến và Triều Châu ở Quảng Đông – quê hương Hoa Kiều truyền thống. Người Hoa ở Philippines chủ yếu quê Tấn Giang, người Hoa ở Thái Lan chủ yếu quê Triều Châu. Với sự giúp đỡ của người thân, bạn bè nơi sở tại, những di dân mới này hội nhập rất nhanh với khu người Hoa ở đó.
Đợt đầu tiên chủ yếu là người Triều Châu, Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông đến Thái Lan và người Nam Phúc Kiến đến Phillipines. Với sự giúp đỡ của người thân ở Thái Lan, người Triều Châu, Sán Đầu đã đến Thái Lan trên danh nghĩa thăm thân nhân. Sau khi chính quyền Thái Lan mở rộng visa du lịch cho người Trung Quốc năm 1988, các công ty du lịch ở Triều Châu, Sán Đầu có thêm dịch vụ mới: đưa người sang Thái Lan. Trong 15 năm, ươc tính của hội đồng hương Triều Châu có 200 ngàn người Hoa di dân sang Thái Lan. Khi đời sống kinh tế vùng Triều Châu khá lên, cư dân vùng này ít di dân hơn, thay vào đó là các vùng khác như Phúc Kiến.
Người Hoa đến Phillippines theo cách tương tự như Thái Lan. Từ 1992, không chỉ có người thu thập thấp di dân sang Phillipines, mà người có của ăn của để cũng sang định cư do Phillipines sửa đổi luật cư trú. Theo đó, người nước ngoài đầu tư tại Phillipines trên 75 ngàn USD sẽ được cấp giấy phép cư trú đầu tư lâu dài.
Đợt di dân mới thứ hai đến Đông Nam Á xuất hiện vào giữa thập niên 90, kéo dài liên tục cho đến nay, chủ yếu đến Singapore, Malaysia và Indonesia. Động lực của đợt di dân này là lớp thương nhân Đài Loan. Cuối thập niên 1990, khi kinh tế Đài Loan phát triển, lớp thương nhân ở đây tỏa đi Đông Nam Á làm ăn, có lúc lên tới 100 ngàn người. Riêng Singapore tiếp nhận hơn 100 nghìn lao động Trung Quốc, chưa kể số du học sinh Trung Quốc sau khi học ở châu Âu, Mỹ tới Singapore làm việc. Malaysia, Indonesia cũng trở thành điểm đến của lao động nhập cư Trung Quốc.

Làn sóng thứ ba

Trong các tác nhân của hai làn sóng đầu, nổi lên hai nguyên nhân chính là cải thiện thu nhập của lớp người thu nhập thấp và tìm kiếm cơ hội làm ăn, giao thương. Thì làn sóng thứ ba chủ yếu từ chính sách đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc, cũng như chính sách của chính phủ.
Làn sóng di dân mới lần thứ ba đến Đông Nam Á bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 21, chủ yếu đến các khu vực đất liền ở Đông Nam Á như: bắc Myanmar, Lào và bắc Thái Lan. Quy mô của làn sóng di dân thứ ba cũng vượt xa hai đợt trước, trong đó đông nhất là Myanmar.
Số liệu do nhà nghiên cứu độc lập Sudha Ramachandran (Ấn Độ) công bố năm 2005, trong 10 năm, có trên một triệu dân Trung Quốc sang Myanmar. Thậm chí, nhà nghiên cứu này còn nhấn mạnh đến cơ cấu chủng tộc ở bắc Myanmar đã thay đổi do di dân Trung Quốc.
Sự khác biệt so với các đợt di dân trước đó, theo tiến sĩ James Chin (Viện nghiên cứu châu Á, đại học HongKong), ở làn sóng thứ ba gắn bó mật thiết hơn với tổ quốc Trung Quốc. Trong khi các làn sóng đầu, tuy có gắn kết, nhưng chủ yếu là từ tình cảm thân tộc níu kéo.
Ở làn sóng thứ ba, gây chú ý với các nghiên cứu là những tập thể người Hoa đế bắc Myanmar, Lào và Campuchia làm nghề trồng trọt. ỞShan State , phía Bắc Myanmanr, có nông trường trồng mía do người Trung Quốc đầu tư, dường như tất cả lao động đều đến từ Vân Nam , lên tới 5.000 người.
Phi Giao tổng hợp

Trung Quốc vươn ra biển: Mục tiêu kinh tế, phương cách quân sự

Hai vụ “tiếp cận” tàu chiến Mỹ của Trung Quốc xảy ra trong vòng ba tháng trở lại đây cho thấy, nước đông dân nhất thế giới này đang gia tăng sự hiện diện của mình trên mặt biển.
Quân sự bảo vệ kinh tế
Các chuyên gia quân sự quan tâm nhiều tới việc Trung Quốc phô diễn tàu ngầm hạt nhân nhân ngày kỷ niệm thành lập hải quân nước này và xuất hiện các phỏng đoán trong năm 2009 Trung Quốc bắt tay đóng tàu sân bay. Cơ sở hình thành phỏng đoán dựa trên tin tức Trung Quốc đã mua ba tàu sân bay cũ để nghiên cứu công nghệ thiết kế. Chuyên gia bình luận quân sự Andrei Chang cho rằng, do khả năng bùng nổ chiến tranh ở eo biển Đài Loan thấp, nên quân đội Trung Quốc tiến hành điều chỉnh chiến lược quay trở lại coi trọng vấn đề chủ quyền và lợi ích trên biển tại biển Hoa Nam (biển Đông) và tại biển Hoa Đông… Từ tháng 5.2008 trở lại đây, Trung Quốc điều động tàu điều tra tích cực hoạt động tại khu ực biển Hoa Nam, đưa tàu hộ vệ tên lửa lần đầu tiên tiến vào eo biển Tsugaru (Tây Thái Bình Dương).
Tháng 12.2008, Trung Quốc phái đội tàu hộ tống tới vùng biển Somalia. Đây là lần đầu tiên Hải quân Trung Quốc hoạt động bên ngoài Thái Bình Dương.
Có nhiều cách nhìn về nguyên nhân hải quân Trung Quốc gia tăng sự hiện diện không chỉ ở vùng biển gần mà còn tới Ấn Độ Dương. Chuyên gia Booz Alen Hamilton trong bài phân tích về tương lai năng lượng ở châu Á đã nhận định rằng, sự kích thích của động cơ kinh tế là nguyên nhân chủ yếu khiến chính sách của Trung Quốc chuyển hướng từ lục địa ra đại dương. Đây cũng chính là mô thức mà Anh, và sau đó là Mỹ, đã từng áp dụng trong quá khứ. Gót chân Achilles của Trung Quốc là tài nguyên như dầu mỏ, quặng. Trong mấy năm qua, các công ty Trung Quốc tìm mua các mỏ đồng, mỏ dầu ở châu Phi, Úc. 60% năng lượng nhập khẩu vào Trung Quốc được vận chuyển qua đường Ấn Độ Dương. Hiện nay, Trung Quốc là nước nhập khẩu dầu lửa đã giúp giải quyết một nửa nhu cầu tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc, trong đó 95% lượng dầu thô nhập khẩu là qua đường biển. Con số thống kê của Hải quan cũng cho biết tháng Ba vừa qua, Trung Quốc đã nhập 52,08 triệu tấn quặng sắt và 99% lượng hàng này phải vận chuyển bằng đường biển. Vì vậy, Trung Quốc không chỉ tăng cường sức mạnh của hải quân bằng các khoản ngân sách trang bị tàu ngầm nguyên tử hay đóng tàu sân bay mà còn gia tăng sự hiện diện ở vịnh Ba Tư và vịnh Bengal.
Chiến lược chuỗi ngọc trai
Trong khi chờ đợi các tàu sân bay như một căn cứ nổi, thì Trung Quốc sử dụng đòn bẩy kinh tế với việc hỗ trợ xây dựng và rồi hiện diện ở một loạt cảng trong khu vực Ấn Độ Dương. Nhà nghiên cứu Sudha Ramachandran trên Asiatimes đưa ra con số một tỉ USD mà Trung Quốc giúp Pakistan xây dựng cảng Gwadar, chỉ cách eo biển Hormuz khoảng 180 hải lý. Đây là vị trí chiến lược để kiểm soát con đường vận chuyển dầu mỏ trên Ấn Độ Dương. Gwadar cũng là cánh cửa ra biển gần nhất của Trung Á qua con đường cao tốc nối hải cảng này với vùng Trung Á vốn đang được xây dựng. Theo nhà phân tích Zia Haider ở trung tâm Stimson (Mỹ), Gwadar là trạm trung chuyển nhập khẩu dầu từ Iran và châu Phi tới vùng Xinjiang của Trung Quốc. Nên nhớ, 60% năng lượng nhập khẩu vào Trung Quốc là từ Trung Đông. Đặt chân được ở Gwadar, Trung Quốc có thể dõi mắt trông theo hoạt động của hải quân Mỹ ở vùng Vịnh hay nhất cử, nhất động của Ấn Độ ở biển Arab, theo Haider.
Chuỗi ngọc trai chiến lược của Trung Quốc còn bao gồm cảng container ở Chittagong ,ở Bangladesh, hay thông qua các trạm radar, cơ sở nạp nhiên liệu đặt tại Sittwe, Coco, Hianggyi, Khaukphyu, Mergui và Zadetkyi Kyun của Myanmar, ở một số ở Thái Lan, Campuchia.
Theo Giáo sư Nghê Lạc Hùng, Viện chính trị - pháp luật Thượng Hải ,Trung Quốc ngày càng cảm thấy lo ngại về tuyến đường vận chuyển trên biển và mối lo ngại này đã trở thành vấn đề quan trọng hàng đầu trong chiến lược đại dương. Ông nói lĩnh vực ngoại thương cũng như một người vợ làm ăn ở hải ngoại, còn Hải quân giống như người chồng. Người vợ đi đến đâu, chồng cũng phải đi theo đến đó. Nếu không, chẳng may người vợ gặp cướp, thì người chồng sẽ “mất cả chì lẫn chài”.

Phi Giao tổng hợp (Asia times, Tương lai năng lượng ở châu Á của Booz Alen Hamilton)

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2009

Khi dân làm vật tế thần

Do tranh chấp vùng đất Arunachal Pradesh dài 320km với Ấn Độ, nên Trung Quốc đã ngăn không cho ADB giải ngân 2 tỉ bảng cho dự án phát triển của nước này. Lý do, trong số tiền này có 40 triệu cấp cho dự án nước ở vùng đất tranh chấp nói trên.
Bình luận trên Telegraph cho rằng, hành động này xảy ra do uy thế của Trung Quốc đã tăng lên, khi nước này đứng thứ ba về tài trợ cho ADB. Cũng theo bài báo trên, có thể Ấn Độ sẽ xích lại gần Mỹ hơn để duy trì cân bằng quyền lực.
Suy ngẫm của người viết không đặt nặng lắm về vị thế của các bên trong trò chơi đi tìm điểm cân bằng này, mà mối quan tâm là một triệu người dân trong vùng sẽ không được hưởng lợi từ dự án nước trên. Hành xử của quốc gia đông dân nhất thế giới có thể nhìn nhận ở góc độ khác: đẩy Chính phủ Ấn Độ vào thế khó xử. Thương dân, thì dân nước nào cũng nên được uống nước sạch, vậy sao không giao cho Trung Quốc đi. Mà không có dự án nước sạch vì không có tiền, hóa ra chính phủ Ấn làm dự án trên cốt để mị dân. Đúng là người Trung Quốc làm gì cũng có tính toán. Đôi khi, tính toán chi li là đằng khác.

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2009

Tiêu xài và tiết kiệm

Ba lý do khiến tiết kiệm là một điều khó, theo kinh tế học hành vi, là do cám dỗ tiêu dùng, thiếu hiểu biết tính toán và cuối cùng là do chủ nghĩa lạc quan: Không giữ thì nó cũng hết giá trị (hoặc không có sức để hưởng thụ).
Tim Hardford, tác giả của Nhà kinh tế nằm vùng, cho biết, một nghiên cứu cảm ứng từ quét trong não bộ con người cho thấy, tiến trình tự phóng chiếu/giả tưởng về hoạt cảnh mua sắm trong đầu cũng cho kết quả tương tự về cảm xúc như khi mua được vật ấy. Nghiên cứu trên do nhà kinh tế học thần kinh (neuroeconomist) Ben Seymour (Anh) tiến hành. Do vậy, đứng trên góc độ tâm lý, để tăng sức hấp dẫn của tiết kiệm, hãy tưởng tượng ta đang bỏ ống heo để mua món đồ mà ta mơ ước. Chứ cứ nghĩ "dàm dụm phòng khi mưa gió" có lẽ không vượt qua được lực hấp dẫn từ mua sắm.
Một phương cách hữu hiệu khác là Tự nhắc nhở về ý thức tiết kiệm mỗi khi móc ví, vốn đã được nhà kinh tế Dean Kaplan (đại học Yale) thử nghiệm ở Bolivia và Philippines. Phương thức này khá hiệu quả dù đối tượng áp dụng là người có thu nhập thấp.
Phương thức khác là hình dung cụ thể về kết quả nhận được từ tiền tiết kiệm. Nếu lãi suất tiết kiệm 5%/năm, thì sau 20 năm, nó đã tăng gấp ba số tiền bạn để dành.
Richard Thaler, nhà kinh tế học hành vi, cho rằng: tự động để ra một khoản tiền nhất định khi thanh toán hóa đơn hàng tháng là cách hiệu quả để tiết kiệm. Giáo sư này cho rằng, nếu khi móc ví mà bắt đầu tính toán để dành, thì khoản tiền tiết kiệm là con số 0.
Cuối cùng, tiết kiệm là hành vi đối phó với rủi ro tương lai. Hành vi này, theo nghiên cứu của Ulrike Malmendier (Đại học California) và Stefan Nagel (Stanford), chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế mà con người trãi qua thời thơ ấu.
Từ các phân tích trên, có thể thấy thế hệ 6x và 7x ở Việt Nam sẽ là thế hệ có ý thức tiết kiệm cao hơn so với 8x và 9x. Vậy tâm lý "ăn chắc, mặc bền" có thể chỉ đúng với người Việt thuộc hai thế hệ đầu. Ngoài ra, hành vi mua sắm bộc phát (impulsive buying) có lẽ chủ yếu ở đối tượng từ 8x trở lên nhiều hơn là 7x.
Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, để thắng được tâm lý "của để dành", marketing cũng phải tạo được các phóng chiếu mua-cũng-là-để-dành, thì lực cản từ tiết kiệm có thể bị triệt tiêu. Điều còn lại là làm sao tạo được sự phóng chiếu này?

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2009

Kinh tế đang cần thêm những câu chuyện kể

Vì sao thị trường chứng khoán Việt Nam tăng điểm kể từ mức đáy 235? Không riêng Việt Nam mà chứng khoán Mỹ cũng có hai tháng tăng điểm ấn tượng, đưa Down John trở lại mốc 8.000 điểm sau khi tuột khỏi mốc này kể từ ngày 8.1.2009. Lý do?
Có nhiều cách lý giải như chứng khoán thường có pha tăng sớm hơn so với nền kinh tế. Robert Shiller có cách lý giải riêng. Đồng tác giả Animal Spirit (viết chung với Nobel Kinh tế Akerlof), các câu chuyện dòng tiền thông minh của các nhà đầu tư tầm cỡ Buffet, các nhà đầu cơ tinh nhanh như G. Soros giúp họ trở thành tỉ phú tạo ra vòng lặp vô tận cho các nhà đầu tư. Sức cám dỗ của các câu chuyện kia cũng với các hình mẫu có thật như Buffet và Soros khiến cho người nghi ngờ nhất cũng phải tin vào một phần câu chuyện. Sự chiếu phóng đó được hỗ trợ thêm bởi phản ánh thực tế của các phiên tăng điểm ngắn hạn, làm gia tăng sức hút của vòng lặp từ chuyện kể - thực tế đầu tư - kết quả - chuyện kể. Kết quả là sự chiếu phóng sẽ dẫn tới sự siêu thăng mà trong trí tưởng tượng của nhà đầu tư hình ảnh của Buffet hay Soros có khi chính là một phần hình ảnh của họ hóa thân vào.
Theo Shiller, tháng ba không có các câu chuyện kể hấp dẫn như trên mà do thị trường vắng bóng các tin xấu sau khi dồn dập xuất hiện kể từ tháng 9.2008. Shiller đúc kết rằng, khi báo chí tràn ngập hình ảnh nhà treo bảng bán rẻ hay bị ngân hàng bán trừ nợ, thì người đọc đã "bảo hòa" với các dạng tin này. Trong tình trạng đó, mặc nhiên, con người cho rằng, khủng hoảng đang ở giai đoạn tới đáy. Kết cục là, không sớm thì muộn, kinh tế sẽ phục hồi.
Theo Shiller, kịch bản phục hồi kinh tế cũng giống như phim, theo nghĩa, không ai biết chắc sẽ phải viết kịch bản thế nào cho vừa ý khán giả, mà nhà biên kịch chỉ biết rõ khi khán giả xem phim. Do vây, các tốt nhất là viết ra các câu chuyện có sức thuyết phục. Shiller cho rằng, làm như vậy không gì bằng giữ cho hệ thống tư bản chủ nghĩa vận hành tốt hơn, không có sự bảo hộ. Quan trọng hơn, Shiller nhấn mạnh tới các vấn đề căn cốt của sự vận hành tư bản, không để kết cục là các bong bóng tăng trưởng như vừa qua.
Đối chiếu với thực tế ở Việt Nam, trong tháng 2,3 dồn dập thông tin về khó khăn của doanh nghiệp, thất nghiệp, nhưng tháng 4 các câu chuyện này ít dần. Cuối tháng 3, còn rộ lên thông tin chuyển động thị trường nhà đất. Rồi lạm phát giảm.

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2009

Những cây nến trắng dài

Hai phiên giảm điểm hôm thứ tư, năm đã được bù lại trong phiên tăng điểm cuối tuần, 15.5, khi VNindex đóng cửa ở 390,2 điểm, với 52 triệu cổ phiếu giao dịch.
Trên biểu đồ hình nến, cây nến trắng dài của phiên cuối tuần phủ lên cây nến đen của ngày thứ tư và tạo thành một khoảng hở với cây nến đen của ngày thứ năm. Đáng chú ý, cây nến trắng thân dài này xuất hiện vượt đường giảm giá dài hạn thiết lập từ năm ngoái. Một dấu chỉ cho thấy VNindex đã qua thời kỳ giảm giá. Ở đồ thị tuần, cũng xuất hiện cây nến trắng ở trên ngưỡng hỗ trợ lập ngày 28.3.2008. Khả năng VNindex sẽ còn tăng trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, tháng 5 và tháng 6 không phải là tháng VNindex có kết quả tốt, theo thống kê. Vẫn cần thêm các chỉ báo khác mà diễn biến của hai tuần cuối tháng 5 rất đáng chú ý.

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2009

Nghiên cứu theo đơn đặt hàng

Phải nói ngay từ đầu, đây không phải là câu nói quen thuộc thường thấy trong các bài báo, tham luận về thực trang nghiên cứu khoa học-công nghệ ở Việt Nam.
Một người bạn làm ở đơn vị nghiên cứu cho biết, anh và đồng nghiệp vừa tiếp đại diện quảng cáo của một hãng nước ngoài đang chiếm thị phần hàng đầu trong hàng tiêu dùng công nghệ ở Việt Nam. Nội dung buổi làm việc xoay quanh việc đặt hàng "nghiên cứu thị trường". Tuy nhiên, đại diện quảng cáo kia không ngần ngại nói thẳng, kết quả nghiên cứu sẽ đi tới các kết luận như vậy nè. Bên nghiên cứu sau khi thực hiện sẽ phối hợp/họp báo và công bố kết quả điều tra "mang tính khoa học" để các phương tiện truyền thông có thể đăng tải. Tất nhiên, làm vậy thì kết quả công bố mang đầy "tính khách quan" và "khoa học".
Dĩ nhiên, bên nghiên cứu từ chối. Có lẽ, vì họ không quen kiểu "bán danh" khoa học như vậy.
Người viết sẽ cố gắng cập nhật trên blog này các kết quả nghiên cứu theo đơn đặt hàng như vậy, khi sản phẩm xuất hiện.

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009

Phát triển công nghiệp xe hơi: Nhà nước bảo hộ, người dùng “ủng hộ”

Nhà nước bảo hộ công nghiệp xe hơi từ năm 1991 đến nay, là điều không phải bàn. Do vậy, người dùng Việt Nam, trong đó có cả nhà nước với tư cách người mua lớn, phải "ủng hộ" khá nhiều cho doanh nghiệp lắp ráp xe hơi mà kết quả nhận được là chiếc xe giá cực kỳ cao, chất lượng chưa chắc tương đương

(Nguyên văn bài viết trên SGTT, chỉ trừ tít được "hiền hòa hóa")

Ngay sau khi công bố lượng xe tiêu thụ trong tháng 4 của 16 thành viên thuộc hiệp hội các nhà sản xuất xe hơi Việt Nam (VAMA) chỉ đạt hơn 7.700 chiếc, giảm 42% so với cùng kỳ năm trước, VAMA có văn bản kiến nghị lên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, đề nghị cho hoãn thuế tiêu thụ đặc biệt, nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến lượng xe tiêu thụ.
Lập luận trong công văn nhấn mạnh tới ảnh hưởng của thuế qua công nhân mất việc và ảnh hưởng tới kế hoạch nội địa hóa sản phẩm của các doanh nghiệp thành viên. VAMA cho rằng, dòng xe từ 6-9 chỗ nên được xác định là dòng xe chiến lược và nhà nước phải có chính sách ưu tiên để tăng doanh số, đủ để doanh nghiệp đầu tư, phát triển công nghiệp phụ trợ, qua đó, nâng tỉ lệ nội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Những lập luận trên được VAMA sử dụng nhiều lần để tăng tính thuyết phục cho các đề nghị có lợi cho các thành viên của VAMA. Lập luận trên hoàn toàn bỏ qua các tính toán về lợi ích mà các doanh nghiệp lắp ráp xe hơi trong nước đã được thụ hưởng kể từ năm 1991 khi liên doanh sản xuất xe hơi đầu tiên có mặt ở Việt Nam. Với mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp xe hơi trong nước, chính phủ đã dựng lên một hàng rào bảo hộ bằng thuế nhập khẩu áp dụng cho xe nhập khẩu, thậm chí cấm nhập xe đã qua sử dụng và miễn giảm thuế tiêu thụ đặc biệt cho xe trong nước. Kết quả là tỉ lệ nội địa hóa thấp hơn nhiều so với những gì mà các thành viên VAMA cam kết khi nhận giấy phép đầu tư. Công nghiệp phụ trợ không có.
Theo tiến sĩ Từ Thúy Anh, (báo cáo Kinh tế Việt Nam 2008), thuế nhập khẩu khiến cho sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả trong sản xuất và người tiêu dùng phải cắt giảm tiêu dùng và mua hàng hóa với giá đắt. Tiến sĩ Anh đề xuất, thay vì thuế nhập khẩu, Chính phủ có thể sử dụng thuế tiêu thụ đặc biệt. Tác dụng của thuế này là cũng làm giảm thâm hụt cán cân vãng lai, nhưng tác động không mạnh bằng thuế nhập khẩu. Đổi lại, thuế tiêu thụ đặc biệt lại có nhiều lợi thế như đem lại nguồn thu dồi dài cho ngân sách và chi phí bảo hộ thấp hơn thuế nhập khẩu nên không tạo sự méo mó trong sản xuất, và nguồn lực xã hội vẫn được phân bố hiệu quả. “Trong dài hạn, thuế tiêu thụ đặc biệt có thể tạo cơ chế sàng lọc, đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất ô tô trong nước phải nâng cao năng lực cạnh tranh hơn, tạo nội lực thực sự và lâu dài cho nền kinh tế” – tiến sĩ Anh viết.
Minh chứng cho luận điểm này, tiến sĩ Anh sử dụng dữ liệu tổng cục thống kê, năm 2008, Việt Nam nhập khẩu 50.000 xe hơi, với giá nhập khẩu trung bình là 20.700 USD. Lượng xe sản xuất trong nước là 100.000 chiếc, với giá đã bao gồm thuế và phí là 41.400USD.
Theo tính toán của tiến sĩ Anh, trong điều kiện thương mại tự do, lượng sản xuất trong nước là 64.500 chiếc, lượng tiêu dùng là 165.000 chiếc, lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu là 105.000 chiếc.
Theo dữ liệu trên, nếu dùng thuế nhập khẩu, lượng xe nhập khẩu sẽ giảm 52% so với điều kiện thương mại tự do. Thu ngân sách sẽ là 1,035 tỉ USD, chi phí bảo hộ của việc áp thuế nhập khẩu là 568,25 triệu USD. Nếu áp thuế tiêu thụ đặc biệt, thu ngân sách là 3,105 tỷ USD, tăng thêm 200% so với khi sử dụng thuế nhập khẩu; Chi phí bảo hộ của việc áp thuế tiêu thụ đặc biệt là 155,25 triệu USD, giảm 173% so với trường hợp dùng thuế nhập khẩu.
Trong hai trường hợp, người tiêu dùng đều chịu thiệt 3,2 tỉ USD. Ở trường hợp đầu, doanh nghiệp được lợi 1,6 tỉ USD. Nếu dùng thuế tiêu thụ đặc biệt, người sản xuất không được lợi gì.
Có thể thấy rằng, trong 18 năm qua, không chỉ có chính phủ “ủng hộ” ngành sản xuất xe hơi trong nước, mà người tiêu dùng cũng “đóng góp” một phần không nhỏ để thúc đẩy ngành công nghiệp non trẻ này. Để rồi, kết quả họ nhận được là một chiếc xe giá cao gấp 2-3 lần so với người dùng nước khác, mà chất lượng chưa chắc đã tương đương.

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2009

Kỳ vọng 400 điểm

Không hẹn mà gặp các công ty chứng khoán cũng như các nhà phân tích đều cho rằng, thị trường chứng khoán Việt Nam có một tuần giao dịch thành công. Kết thúc tuần giao dịch, VNindex vượt ngưỡng 360 điểm, đóng cửa ở 366,22 điểm, tăng 13,8% so với hồi đầu tuần.
Theo thống kê của công ty chứng khoán FPTS, năm nhóm ngành tăng mạnh nhất trong tuần gồm dịch vụ công, du lịch và giải trí, tài nguyên, hóa chất và ngân hàng, với mức tăng từ 17% tới 20%. Động lực tăng trưởng từ năm nhóm ngành này đã giúp VNindex thoát khỏi đường kênh giảm giá dài hạn được thiết lập trong hai năm qua, theo bình luận của công ty chứng khoán TP.HCM (HSC). Khối lượng giao dịch bình quân đạt 1.149 tỉ đồng, tăng gấp đôi so với tuần trước.
Gây chú ý trong tuần giao dịch là kỷ lục mới của 120 triệu cổ phiếu giao dịch trên hai sàn trong phiên ngày 6.5. Tương ứng với nó là 2.300 tỉ đồng giao dịch trên sàn TP.HCM và hơn 1.000 tỉ đồng ở sàn Hà Nội. Theo các chuyên gia phân tích, lượng giao dịch tăng vọt như vậy là do các nhà đầu tư chốt lời. Tâm lý này có phần “ăn theo” diễn biến ở các sàn châu Á, khi các nhà đầu tư đồng loạt bán ra, chốt lãi, trước khi có có kết quả đánh giá “sức khỏe” 19 ngân hàng Mỹ. Dù VNIndex giảm điểm trong phiên “xả hàng”, khối đầu tư nước ngoài đã mua ròng, với giá trị trên 400 tỉ, một con số bằng cả giá trị giao dịch mua ròng của cả tháng trong các tháng cận và sau Tết.
Động thái mua ròng của nhà đầu tư nước ngoài là một dấu hiệu tích cực cả về tâm lý lẫn lực đẩy chứng khoán đi lên. Thống kê trong sáu tháng trở lại đây của FPTS, trong năm lần khối ngoại mua ròng lớn, có bốn lần thị trường tăng điểm sau đó.
Trong phiên giao dịch cuối tuần, VNIndex tăng mạnh ở giữa phiên, nhưng yếu dần vào cuối phiên. Đó là tín hiệu sớm cho thấy có thể có các phiên phân phối trong tuần này. Giới quan sát đang chú ý tới ngày thứ ba, ngày 12.5, khi 120 triệu cổ phiếu được mua ở bốn phiên trước đó, sẽ về tài khoản của nhà đầu tư. Phân tích của FPTS chỉ ra, kênh giao động của VNindex trong tuần này ở mức 360 tới 390 điểm. Nhà phân tích định lượng Christopher Blank của HSC nghiêng về khả năng VNindex hướng tới mốc 400 điểm.
Update 1: Kết phúc phiên 11.5, VNIndex tăng 6,5 điểm, đứng ở mức 372,95 điểm. Lượng giao dịch trên 1.200 tỉ đồng. Sàn Hà Nội xuống nhẹ 0,59 điểm, đứng ở 130,64 điểm, với hơn 709 tỉ đồng giao dịch.
Khối đầu tư nước ngoài mua ròng 196 tỉ đồng.Chỉ báo kỹ thuật: Chứng khoán tăng, nhưng đà tăng đã giảm. Đường giá cũng vừa chạm đường MA 200. Khả năng có phiên điều chỉnh trong vài ba ngày tới. Do vậy, phiên ngày mai (12.5) có thể là 1 phiên xả hàng khi 120 triệu cổ phiếu đã về trong tài khoản.

Update 2: Phiên hôm qua và hôm nay (14.5) có thể được xem là phiên điều chỉnh, với khối lượng giao dịch khá cao (từ 1.500-1.600 tỉ). Ngày mai, khả năng VNindex chạm ngưỡng 366. Diễn biến của phiên sắp tới và đầu tuần sau sẽ phản ánh xu thế đi lên của VNindex còn tiếp tục hay không?

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009

Dr Thanh và sự dấn thân

Trà Dr Thanh xuất hiện trước Tết. Theo tìm hiểu, lượng tiêu thụ tuy không đạt kỳ vọng của nhà sản xuất, nhưng số lượng khá. Có ý kiến cho rằng, quảng cáo loại nước giải khát này là bản sao của một loại nước tương tự ở Trung Quốc. Ở đây, không bàn về chuyện này do hạn chế trong tìm kiếm dữ liệu tiếng Trung.
Ông Trần Quý Thanh, lãnh đạo của Tân Hiệp Phát, mang danh xưng tiến sĩ. Việc ông mang danh tính cá nhân gắn với sản phẩm, trên quan điểm học thuật về thương hiệu, thể hiện sự cam kết về chất lượng. Từ xưa, doanh nghiệp khi mới ra đời nên ít được người tiêu dùng biết đến. Do vậy, chủ doanh nghiệp thường ký tên mình vào sản phẩm như một lời cam kết về chất lượng. Michellin hay Dunlop là các ví dụ điển hình. Cho nên, hành động dám gắn danh tính người chủ với sản phẩm được xem như một sự dấn thân. Sau này, các doanh nghiệp lớn để tránh sự vô hồn, một phản ứng xã hội xảy ra sau vụ cháy xí nghiệp may ở đầu thập niên 10 của thế kỷ 20, mà trong đó, các cửa ra vào bị khóa chặt nhằm ngăn công nhân đi vệ sinh, thường chọn nhãn hiệu và thương hiệu mang tên người để tạo sự gần gũi. Dĩ nhiên, cái tên thôi không đủ, mà đòi hỏi chiến lược xây dựng thương hiệu vốn phức tạp và dài dòng, nên không thể đề cập ở đây.
Trở lại trà Dr Thanh, việc gắn tên là bình thường. Nhưng ở đây có sự lập lờ giữa ý nghĩa Dr. Một mang nghĩa tiến sĩ, một mang nghĩa bác sĩ. Ông Thanh tiến sĩ hoàn toàn khác với ông Thanh, bác sĩ. Nên Dr Thanh, xét cho cùng, là một cách làm không chính danh.
Trên nguyên tắc, Marketing là quản lý chuyện kể (story-telling management). Nghĩa là phải có chuyện và chuyện có sức thuyết phục người nghe/người dùng. Vậy sự không chính danh như trên, liệu có đủ để kể và thuyết phục người nghe?
Hơn nữa, sự mơ hồ trong công thức trà cung đình, mà đến nay, chưa thấy có dữ liệu xác thực ông vua triều nào, đời nào uống trà có 9 loại thảo mộc như trên. Vậy thì, ai cũng có thể có một công thức riêng về trà cung đình, không A thì Z, rồi còn đẻ ra vô số nhánh như A1,A2 tới An, đều được. Cho nên, quản lý một câu chuyện kể mà tính mơ hồ lồ lộ như vậy, xem ra là một việc rất khó.
Đã có vài ý kiến người dùng về sự khác biệt của loại trà trên. Trong đó, chủ yếu cho rằng nó chẳng khác gì nước sâm thường uống dọc đường. Hà cớ gì, phải trả giá cao hơn mức đó?
Bài viết này dựa trên quan điểm học thuật về quản trị, thương hiệu và marketing. Người viết hoàn toàn không có bất cứ liên hệ nào tới các đối thủ cạnh tranh hay doanh nghiệp có sản phẩm mang tính thay thế với sản phẩm được nêu trong bài.

Kích cầu nhầm chỗ

Nông dân sẽ mua máy tính để bàn lắp ráp trong nước có giá dưới năm triệu đồng, sẽ được vay tối đa là 5 triệu đồng, thời hạn vay 24 tháng. Lãi suất được hỗ trợ 100%, theo quyết định ban hành ngày 16.4 của chính phủ. Quả là tin mừng khi có chính sách hỗ trợ nông dân, những người đang làm trong lĩnh vực "trụ đỡ" của nền kinh tế, vai trò này càng đặc biệt hơn khi xảy ra kinh tế khủng hoảng. (Vai trò trụ đỡ được khẳng định trong phiên họp thường kỳ tháng năm của chính phủ).
Sẽ không có gì bàn về việc hỗ trợ mua máy tính, nếu nó không thuộc giải pháp kích cầu. Bản chất của kích cầu, theo nguyên lý kinh tế, mang tính ngắn hạn. Tuy nhiên, không nên cố chấp để tranh luận 24 tháng hay bao nhiêu tháng là đủ.
Về bản chất, thúc đẩy tiêu thụ máy tính không giúp gì nhiều cho nền kinh tế. Hơn 10 năm qua, hàm lượng giá trị gia tăng trong công nghiệp máy tính Việt Nam ở mức độ 5%. Nói gọn, đó là nền công nghiệp tuốc-nơ-vít. Cho nên, kích cầu máy tính không mang lại nhiều lợi ích cho nhiều thành phần kinh tế, mà chỉ gói gọn trong số ít công nhân thuộc vài doanh nghiệp lắp ráp máy tính gọi là có tên tuổi ở Việt Nam. Được biết, khá nhiều doanh nghiệp trong nước, thậm chí, còn không nghe tới gói chính sách này. Nếu vậy, hình như đối tượng thủ lợi chính từ chính sách này, ngoài những nông dân đáng kính, còn có các đối tượng khác. Có lẽ, không cần phải nói thêm, ai là người hưởng lợi.
Theo số liệu của điện lực Việt Nam, có khoảng 10 triệu hộ nông dân sử dụng điện. Trên nguyên tắc, chính sách như vậy có thể tạo ra đơn hàng trị giá 5.000 tỉ đồng. Tất nhiên, không thể đạt được con số này, bởi trên thực tế, hỏi nông dân ở xã, cũng không biết tới chính sách như vậy. Về lý thuyết, nông dân hưởng lợi khi có máy tính, ít ra cũng có cái cho con họ học, làm quen với công nghệ thông tin. Nhưng để chiếc máy tính trở thành công cụ nâng cao dân trí, một mình chính sách hỗ trợ lãi suất là chưa đủ. Nếu nông dân mua máy tính, chỉ để cho con họ lên thành phố hay học tập, cũng cần thêm các chính sách lồng ghép khác.
Một vị chức sắc hội tin học TP.HCM cho rằng, không nên quá cực đoan khi đánh giá chính sách này như những gì phân tích ở trên. Dễ hiểu nguyên do phát biểu, các doanh nghiệp thành viên của hội là đối tượng có quyền lợi liên quan. Hơn nữa, nói như vậy cũng là một cách lý giải theo kiểu "lọt sàn, xuống nia". Tiếc rằng, ông này chỉ thấy cái ở trên sàn có vẻ to, chứ cái ở dưới nia còn to hơn nhiều. Hơn nữa, quan điểm này còn phải đặt trong trật tự xếp hàng của nhiều ngành khác. Mà nếu đứng trong trật tự đó, với hàm lượng giá trị gia tăng thấp như vậy, mức độ lan tỏa từ ảnh hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất vào ngành công nghệ thông tin, còn phải đứng sau nhiều ngành khác. Nói gọi, thứ tự ưu tiên cho ngành công nghệ thông tin không thể trong hàng tốp đầu.
Chính sách như trên, tốt, nếu không nằm trong nhóm chính sách mang tính tình thế như hiện nay.

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2009

Lao động và cái ngọn của vấn đề

Tình cờ tìm kiếm trên mạng, thấy bài Khiếu nại của OCI: Phớt lờ gốc sai phạm đăng trên Lao Động, trong đó tác giả lập luận rằng kết luận sai phạm của thanh tra sở tuy khái quát nhưng đã đủ ý. Và vì sự "nhẹ nhàng" có chủ ý của sở mà OCI có cớ khiếu nại. Tác giả bài viết này còn lập luận rằng OCI đã phớt lờ cái gốc của sai phạm là doanh nghiệp này có cung cấp dịch vụ mà không được cho phép, và dùng "cái ngọn" là cuộc gọi khởi phát từ ngoài Việt Nam (nên không chịu chế tài của luật Việt Nam) để che cái gốc của sai phạm: cung cấp dịch vụ.
Có lẽ, vì quá tin vào lời giải thích của cơ quan quản lý, mà tác giả không định nghĩa được rằng: thế nào là một dịch vụ hoàn chỉnh. OCI Việt Nam chỉ được gọi là nhà cung cấp dịch vụ chiều gọi về Việt Nam khi có hệ thống thiết bị (thuê hoặc tự đầu tư), có kết nối hợp pháp với hệ thống tổng đài (PSTN). Trên thực tế, thanh tra sở đã kết luận là OCI Việt Nam không có đấu nối trực tiếp. Chính vì vậy, mà phó chánh thanh tra bộ thông tin và truyền thông mới mạnh miệng khẳng định chưa đủ bằng cớ.
Trở lại cái ngọn của vấn đề như tác giả bài viết đặt ra, liên minh viễn thông quốc tế mà Việt Nam là một thành viên, quy định rằng: cuộc gọi khởi phát từ đâu thì chịu sự chế tài của luật định nước đó. Do vậy, cuộc gọi từ 24 nước mà thẻ của OCI Việt Nam cung cấp dịch vụ, không chịu sự chi phối của luật Việt Nam. Đó mới thực sự là cái gốc của vấn đề. Khi hội nhập, không thể lấy luật của cái giếng để áp dụng cho cả bầu trời.
Dựa trên thông tin và kết luận của thanh tra sở, tôi không nghĩ rằng, OCI Việt Nam vi phạm luật. Bởi thật sự đúng như vậy, thì OCI Việt Nam sẽ bị xử lý hình sự theo tội danh "trộm cước viễn thông", chứ không bị xử phạt hết khung 20 triệu đồng.
Đọc lại các diễn tiến thông tin về vụ OCI trên Lao Động, tôi lấy làm lạ khi vụ việc có liên quan đến yếu tố pháp luật khá phức tạp, không có bất kỳ ý kiến luật sư nào. Tôi không nghĩ rằng, vụ việc này chỉ tiếp xúc với doanh nghiệp, chuyên gia viễn thông và cơ quan quản lý là đủ. Tôi hâm mộ Lao động từ lâu, thời kỳ ông Tống Văn Công và hàng loạt nhà báo danh tiếng tham gia. Tôi biết khi Chánh Trinh và Trần Trọng Thức mang ra Hà Nội để trao đổi nghiệp vụ là cuốn Ký giả chuyên nghiệp. Tiếc rằng, những bài học sơ đẳng nhất trong đó đã không được thể hiện qua bài báo này.
Tôi có gặp luật sư Nguyễn Ngọc Bích. Ông cho rằng, có thể mô hình hóa dịch vụ điện thoại trên nền internet qua máy tính như một bộ máy tính (CPU, phần mềm) và thiết bị ngoại vi. Hội đủ các điều kiện này thì mới có thể kết luận là dịch vụ đầy đủ. Sự việc OCI Việt Nam, trong con mắt luật sư Bích, như chuyện kết luận con chuột-bàn phím vi phạm luật bản quyền. Trong khi phần mềm nằm trong CPU ở nước ngoài, mới là cái gốc của sự vi phạm.
Cái gốc của vấn đề, theo luật sư Bích, là doanh nghiệp được phép làm những gì mà pháp luật không cấm. Còn nhà nước chỉ được làm đúng những gì mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, cuộc sống thay đổi nên pháp luật có lúc không bắt kịp được yêu cầu của cuộc sống. Thông lệ quốc tế, trong trường hợp như vậy, viện dẫn pháp luật trên tinh thần có lợi cho người tiêu dùng, theo ông Bích.
Tiếc rằng, đó là thông lệ của quốc tế, không đúng với trường hợp này.

Ai tạo ra ngày của mẹ?

Buổi sáng, bước chân vào sảnh văn phòng, đập vào mắt là một lẵng hoa hồng màu đỏ thắm, khá to và đẹp. Sinh nhật cơ quan cũng qua rồi, sao có lẵng hoa này nằm ở đây. Tới gần, mới hay là Dutch Lady tặng nhân ngày của mẹ.
Là người Việt Nam, bạn sẽ dễ dàng liên tưởng đó là một sự kiện trong đời sống văn hóa phương Tây. Thôi thì ngày của mẹ, của cha, của ông, của bà, chưa kể các ngày đã và đang "đổ bộ" vào Việt Nam như lễ Tình nhân, Haloween, rồi sự kiện của một tôn giáo trở thành ngày lễ ở đô thị như Noel.
Vậy Dutch Lady liên quan gì đến ngày của mẹ mà tặng hoa? Chưa kể, doanh nghiệp sản xuất sữa này còn chạy chương trình PR trên hàng loạt báo như T.N, SGTT... Đường dây dẫn dắt cô gái Hà Lan quan tâm và "phổ cập hóa" ngày của mẹ cho người Việt Nam là gì? Trong khi phụ nữ Việt đã có ngày của riêng họ dù mang tên quốc tế phụ nữ, rồi ngày phụ nữ Việt Nam (20.10). Chưa kể tới mỗi gia đình sẽ tổ chức hoặc ít ra biết rằng trong gia đình họ có ngày sinh nhật của mẹ. Thậm chí, khi người mẹ ra đi, thì vẫn có ngày tưởng nhớ cúng giỗ.
Có lẽ, phải lần ngược về thế kỷ trước để tìm hiểu lịch sử hình thành các ngày này. Về niên đại hình thành, bạn sẽ thấy chúng có từ lâu đời. Vị thánh Valetine cách đây mấy trăm năm. Noel có từ xửa từ xưa ở các nước Bắc Âu, Hà Lan. Nhưng bạn có bao giờ đặt ra câu hỏi hai màu chủ đạo đỏ-trắng của ông già Noel nó giống với màu chủ đạo của hãng nước giải khát danh tiếng nào trên toàn cầu? Ngày lễ tình nhân chỉ thật sự sôi động sau thế chiến thứ hai. Sự kiện ấy đã gieo hạt ươm mầm nhu cầu của một đời sống gia đình trên mảnh đất hoang hóa lâu ngày bởi chiến tranh. Dĩ nhiên, các công ty sản xuất chocolate, dịch vụ tặng hoa, bưu thiếp hưởng lợi từ sự kiện này. Thế rồi, doanh nghiệp ngành khác cũng phải lục tìm trong biên niên sử các sự kiện mà trong thời điểm tìm kiếm có thể sử dụng để khơi dậy hay đáp ứng đúng tâm thế/nhu cầu của một xã hội. Các doanh nghiệp tư bản đã sử dụng sự kiện theo cách kinh tế nhất cho mình. Cao hơn, họ còn làm cho ông già Noel mang màu sắc của chính doanh nghiệp họ.
Ở Việt Nam, lễ tình nhân mới du nhập vào từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Từ một sự kiện nhỏ trong cộng đồng học tiếng Anh, và đặc điểm của cộng đồng này trong thời kỳ đó, là trẻ, đang hướng vọng về tri thức toàn cầu, lễ tình nhân đã trở nên phổ biến dựa vào các hạt nhân cơ bản đó. Đáng tiếc, sự kiện này chỉ được doanh nghiệp phân phối và bán lẻ khai thác theo lối tự nhiên, nghĩa là không có nhiều đầu tư để nó mang hương sắc Việt. Haloween không trở thành một sự kiện phổ biến vì nó mang dáng vẻ trò vui, giải phóng một phần năng lượng sung mãn của tuổi thanh niên, hơn là mang lại ý nghĩa riêng nào đó, hay khơi dậy ở họ những giá trị tinh thần nào khác.
Trong bối cảnh đó, phải thêm ít nhất 5 lần nhận hoa của Dutch Lady nữa, may ra, mới giật mình: sắp tới ngày của mẹ rồi, sẽ mua quà gì đây? Và trong lần giật mình ấy, biết đâu lại nghĩ tới lát mứt gừng ấm áp hay lạng chè xanh cho mẹ hơn là lon sữa giàu calcium chống loãng xương.
Công bằng mà nhìn nhận rằng, doanh nghiệp nước ngoài luôn đi đầu trong việc tạo ra các trào lưu tiêu dùng. Làm được như vậy không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp có năng lực sản xuất, sáng tạo trong mẫu mã, đổi mới công nghệ, mà còn phải đủ khả năng dẫn dắt thị trường.
Gần đây, nhiều người nhắc nhiều đến chiến lược đại dương xanh. Nhưng thực chất, nếu bạn đọc Michael Porter, Peter Drucker và Philips Kotler, bạn sẽ thấy đại dương xanh thực ra chỉ là đi tìm sự khác biệt. Đạo tối thượng trong kinh doanh, như thầy tôi, giáo sư tiến sĩ Tôn Thất Nguyễn Thiêm chỉ ra: doanh nghiệp tự tạo ra cho mình một xã hội để phục vụ. Làm được như vậy, thì ai có thể phục vụ cộng đồng tiêu dùng đó tốt hơn doanh nghiệp sáng lập ra xã hội đó. Lúc đó làm gì có doanh nghiệp nào có thể vào đó mà cạnh tranh. Há chẳng phải là đại dương xanh đó ư? Chiêu thức có thể được gọi dưới nhiều tên khác nhau, nhưng mục đích chỉ có một.